"40 năm trên vị trí tiên phong của báo chí lý luận"

1. Nền báo chí cách mạng Việt Nam có lịch sử vẻ vang và đóng góp to lớn vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và đổi mới CNXH. Trong nền báo chí hùng hậu ấy, đội ngũ báo chí lý luận chính trị có vai trò, vị trí và thiên chức đặc thù. Đó là tổ chức tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về lý luận cách mạng, về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; là diễn đàn trao đổi học thuật và mặt trận đấu tranh tư tưởng, đấu tranh lý luận; là công cụ tuyên tuyền đối ngoại và hợp tác quốc tế về nghiên cứu, giáo dục lý luận của Đảng ta với các lực lượng cộng sản, công nhân, các lực lượng chính trị tiến bộ trên thế giới...

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh là trung tâm quốc gia đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt trung, cao cấp, cán bộ khoa học chính trị của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể chính trị - xã hội; đồng thời, là trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nghiên cứu đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, nghiên cứu khoa học chính trị, tổng kết thực tiễn góp phần bổ sung, phát triển lý luận.

Để thực hiện thành công vai trò, vị trí và chức năng, nhiệm vụ quan trọng mà Đảng, nhân dân giao phó, ngay từ rất sớm, Học viện đã quan tâm xây dựng và phát triển hệ thống các cơ quan báo chí. Đến nay, Học viện có Tạp chí Lý luận chính trị là cơ quan ngôn luận khoa học của Học viện; đồng thời, có 10 tạp chí khác: Lịch sử Đảng, Giáo dục lý luận, Khoa học chính trị, Sinh hoạt lý luận, Thông tin khoa học chính trị, Lý luận chính trị và truyền thông, Thông tin khoa học lý luận chính trị, Kinh tế và quản lý, www.lyluanchinhtri.org.vn, Political Theory Review; gần 20 bản tin của các viện nghiên cứu và giảng dạy lý luận, trong đó có Bản tin Những vấn đề lý luận phục vụ lãnh đạo. Ngoài ra còn có các trang thông tin điện tử của Học viện Trung tâm, các Học viện trực thuộc và một số đơn vị. Tính chung, đội ngũ chuyên trách làm công tác báo chí của Học viện lên tới trên 200 cán bộ, trong đó nhiều người có học hàm, học vị cao, được đào tạo chuyên nghiệp và kinh nghiệm thực tiễn phong phú. Trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của Học viện, một số đồng chí đã từng là người đứng đầu các cơ quan báo chí chính trị chủ chốt của Đảng.

Trong những năm qua, các cơ quan báo chí của Học viện, đứng đầu là Tạp chí Lý luận chính trị, đã hoàn thành tốt nhiệm vụ nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục lý luận, góp phần vào thành tựu chung của Trường Đảng mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, qua đó, khẳng định vị trí tiên phong trong đội quân báo chí lý luận chính trị của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội.

Các tạp chí, bản tin của Học viện đã đảm bảo đúng tôn chỉ, mục đích; đảm bảo quan điểm, lập trường của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật của nhà nước. Với các chuyên mục và cơ cấu nội dung phù hợp, các cơ quan báo chí đều hoàn thành tốt vai trò là cơ quan ngôn luận khoa học của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; tạo lập diễn đàn khoa học về lý luận chính trị; đảm nhiệm chức năng là một phương tiện nghiên cứu và tuyên truyền sâu rộng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Các tạp chí, bản tin có nội dung phong phú, luôn bám sát đời sống chính trị của đất nước và định hướng công tác tư tưởng lý luận của Đảng, nhiệm vụ chính trị của Học viện; đã tham gia tích cực vào nhiệm vụ tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước; tuyên truyền những thành tựu của công cuộc đổi mới và các vấn đề thời sự của đất nước. Đã chú trọng triển khai đấu tranh tư tưởng - lý luận, chống các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng. Về hình thức, các tạp chí của Học viện đã có sự đổi mới trong trình bày, bảo đảm tính thẩm mỹ, chất lượng in ấn đã đẹp hơn, hấp dẫn hơn, hướng tới đạt tiêu chuẩn của tạp chí khoa học quốc gia và quốc tế.

2. Trong những năm tới, để phát huy đầy đủ chức năng kép: vừa là cơ quan nghiên cứu, ngôn luận học thuật và là công cụ định hướng chính trị - tư tưởng của Đảng, Tạp chí Lý luận chính trị và các tạp chí, bản tin của Học viện cần bám sát thời cơ và thách thức, mục tiêu và nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân trên con đường tiếp tục đổi mới đi lên CNXH.

Đất nước đạt nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử sau 30 năm đổi mới: khủng hoảng kinh tế - xã hội được khắc phục, đời sống nhân dân được cải thiện, ổn định chính trị - xã hội được giữ vững, hội nhập quốc tế sâu rộng, hiệu quả, sức mạnh tổng hợp quốc gia được tăng cường, đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển và đứng vào danh sách các nước có thu nhập trung bình trên thế giới... tạo ra tiền đề, động lực mạnh mẽ cho các bước phát triển tiếp theo. Bên cạnh đó, những khó khăn kinh tế - xã hội mới phát sinh chưa được giải quyết; tình trạng suy thoái, tham nhũng, lợi ích nhóm, tự diễn biến, tự chuyển hóa trong đội ngũ cán bộ, đảng viên; sự suy giảm lòng tin của nhân dân; sự chống phá của các thế lực thù địch, chống đối, cơ hội chính trị... là những cản trở, khó khăn, thách thức không thể xem thường.

Thế giới ngày nay đang có nhiều chuyển động phức tạp đầy nghịch lý. CNXH đã có bước phục hồi, cải cách và đổi mới đạt nhiều thành tựu quan trọng có tính bước ngoặt, đem lại vị thế lịch sử mới cho các nước XHCN. Tuy nhiên, nó chưa được tổ chức, củng cố như một lực lượng quốc tế; chưa đủ sức mạnh vật chất và tinh thần để xác lập một xu thế phát triển của thế giới trên phạm vi lớn; bên trong một số quốc gia xã hội chủ nghĩa còn tiềm ẩn nhiều bất trắc khó lường. Chủ nghĩa tư bản được hưởng nhiều ưu thế do cục diện thế giới hậu Liên Xô đem lại, kiểm soát nhiều nguồn lực, sức mạnh khổng lồ về khoa học công nghệ, kinh tế, quân sự, thể chế, tài nguyên... trên phạm vi toàn cầu. Tuy nhiên, đúng vào thời kỳ thượng phong này, các nước tư bản liên tục lâm vào khủng hoảng, suy thoái hết sức nghiêm trọng; bị đông đảo quần chúng lao động, làm công ăn lương phê phán, bác bỏ; bị phơi bày ngày càng nhiều giới hạn lịch sử và bất cập không thể vượt qua...

Đời sống đất nước và thế giới đang đặt ra hàng loạt vấn đề lớn, phức tạp cả về lý luận và thực tiễn cần sự vào cuộc mạnh mẽ của báo chí lý luận.

Trước hết là các vấn đề về con đường đi lên CNXH. Bổ sung, phát triển mô hình CNXH ở Việt Nam trên cơ sở đảm bảo các nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản khoa học, phù hợp với điều kiện của đất nước và xu hướng phát triển của thế giới đương đại trở thành yêu cầu, nhiệm vụ cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn. Đến nay, Đảng ta đã xác định 8 đặc trưng của xã hội XHCN ở Việt Nam, 8 phương hướng và 8 mối quan hệ lớn cần giải quyết tốt trong quá trình đổi mới đi lên CNXH.

Trong những năm tới, nhất thiết cần cụ thể hóa nội hàm của mục tiêu tổng quát: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; làm sáng tỏ hơn về các lực lượng sản xuất hiện đại: đạt đến trình độ nào thì được coi là lực lượng sản xuất hiện đại trong nền sản xuất của Việt Nam?; xác định rõ hơn và thống nhất nhận thức về các quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp. Thế nào là các quan hệ sản xuất tiến bộ, tiến bộ hơn các quan hệ sản xuất nào? Tính chất phù hợp là phù hợp với những gì: phải chăng là phù hợp với trình độ phát triển của các lực lượng sản xuất; hay còn phải phù hợp với những yếu tố gì khác? Cũng cần luận chứng rõ hơn tại sao không đặt ra mục tiêu giải phóng con người khỏi bóc lột, mà chỉ đặt ra mục tiêu giải phóng khỏi nô dịch, áp bức? Chấp nhận bóc lột là chấp nhận gì và không chấp nhận những gì liên quan đến bóc lột; chấp nhận bóc lột trong giai đoạn nhất định hay cả trong lâu dài? Lợi ích của giai cấp công nhân được xác định như thế nào trong nhận thức và được thực hiện như thế nào trong thực tiễn xây dựng CNXH ở Việt Nam? Tiếp tục làm sáng tỏ những yếu tố xác lập định hướng XHCN trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam; xác định rõ hơn vai trò, vị trí và chức năng đặc trưng của thành phần kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể; làm gì để vừa giải phóng sức sản xuất, vừa không để các quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa chiếm vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam...

Nhiệm vụ then chốt vẫn là xây dựng, chỉnh đốn Đảng - yếu tố quyết định mọi mục tiêu, nhiệm vụ của sự nghiệp cách mạng có được thực hiện thắng lợi hay không! Lịch sử vẻ vang của phong trào cộng sản quốc tế, trong đó có pho lịch sử bằng vàng của Đảng ta đã chứng minh sinh động bài học kinh nghiệm mang tính quy luật chung rằng, sự lãnh đạo đúng đắn của đội tiền phong là nhân tố quyết định mọi thắng lợi. Cũng từ thực tiễn lịch sử, một bài học xương máu khác đã được đúc kết: sự tan rã của Liên Xô trước hết là sự tan rã về tư tưởng, chính trị và tổ chức của Đảng Cộng sản Liên Xô, bắt đầu từ lãnh đạo cao nhất của Đảng. Tuy bị đặt vào hoàn cảnh tương tự, nhưng các đảng cầm quyền ở Trung Quốc, Việt Nam, Cuba, Lào... nhờ trụ vững trên vai trò, vị trí tiền phong nên đã lãnh đạo nhân dân không chỉ bảo vệ mà còn củng cố, phát triển CNXH thông qua cải cách, đổi mới. Mặt khác, trong quá trình đổi mới vừa qua đã xuất hiện và tồn đọng lâu năm nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng Đảng chưa được giải quyết:

Một là, cần luận chứng đầy đủ hơn bản chất của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong lý luận Mác - Lênin, bản chất giai cấp công nhân của đảng cộng sản được nhấn mạnh. Điều này đúng với bản chất giai cấp của mọi đảng chính trị và cũng đúng với các đảng cộng sản được ra đời ở những nước tư bản phát triển, nơi giai cấp công nhân đã thực sự trưởng thành về mọi mặt. Ngay cả trong những hoàn cảnh điển hình như vậy, các nhà kinh điển cũng vẫn cảnh báo rằng, giai cấp vô sản ở mỗi nước phải tự mình giành lấy dân tộc, phải tự biến thành dân tộc.

Trên thực tế, các cuộc cách mạng vô sản đã không nổ ra ở những nước tư bản phát triển, mà ở những quốc gia chậm phát triển, hoặc phát triển trung bình, những nơi mà sự phân hóa xã hội - giai cấp chưa chín muồi và cũng không điển hình như Mác, Ăngghen từng dự cảm. Ở tất cả những không gian XHCN ấy, đảng cộng sản không thể trở thành đội tiền phong về chính trị, tư tưởng, tổ chức, trí tuệ, tinh thần... nếu chỉ là đảng của giai cấp vô sản còn non yếu; mà phải đồng thời là đội tiền phong của mọi lực lượng xã hội tiến bộ khác. Chính vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng xác định từ rất sớm rằng, Đảng ta là con nòi của dân tộc Việt Nam. Kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh, Đại hội XI khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc”.

Quan điểm nêu trên của Đại hội XI cần được cụ thể hóa và phát triển thêm: đội tiền phong ấy mang bản chất giai cấp công nhân và tính chất nhân dân, tính chất dân tộc hay mang đồng thời các bản chất công nhân, nhân dân và dân tộc?; nội hàm bản chất giai cấp công nhân của Đảng là gì?; khi có sự khác biệt, xung đột về lợi ích giữa công nhân và các tầng lớp xã hội khác, lợi ích của bên nào sẽ được ưu tiên thực hiện?...

Hai là, phải làm gì để xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh ngang tầm giai cấp lãnh đạo cách mạng? Là cơ sở giai cấp sống còn của Đảng, giai cấp công nhân vững mạnh vừa là tiền đề không thể thiếu, vừa là sự đảm bảo không ai có thể thay thế cho Đảng thực hiện vai trò lãnh đạo, cầm quyền. Xem nhẹ việc chủ động xây dựng một cơ cấu xã hội - giai cấp của xã hội XHCN, trong đó có giai cấp công nhân ngày càng hùng hậu, đồng nghĩa với việc tự hủy hoại từng bước nền móng ngôi nhà của chính mình. Xét trên phương diện này, rõ ràng Đảng và Nhà nước cần phải thực thi nhiều giải pháp cấp bách nhằm cứu vãn một đội ngũ đáng kể công nhân Việt Nam ra khỏi tình cảnh khốn cùng: “không nhà ở, không gia đình, không văn hóa, không tương lai, không chính trị...”. Cùng với công nhân, phải chăm lo phát triển giai cấp nông dân làm chủ ruộng đất và đội ngũ trí thức đầy đủ điều kiện lao động sáng tạo, tạo nên liên minh chiến lược cần thiết trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN.

Ba là, các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng phải được bổ sung như thế nào để khắc phục tình trạng giảm sút nghiêm trọng tính chiến đấu và năng lực lãnh đạo của tổ chức Đảng các cấp hiện nay?Kế thừa các quan điểm của Mác, Ăngghen về xây dựng đảng cộng sản, Lênin đã vạch ra các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của chính đảng kiểu mới của giai cấp vô sản, trước hết là nguyên tắc tập trung dân chủ. Trên cương vị đảng cầm quyền, đảng lãnh đạo chính quyền và xã hội thông qua cương lĩnh, điều lệ, đường lối; thông qua đội ngũ đảng viên, tuyên truyền, vận động, nêu gương và kiểm tra, giám sát. Đây là nội dung cốt lõi trong học thuyết lêninnít về xây dựng đảng, đã làm kim chỉ nam cho các đảng cộng sản trên thế giới được xây dựng, trưởng thành vững mạnh trên vai trò, vị trí đội tiền phong chính trị của giai cấp công nhân và quần chúng cách mạng đập tan chế độ phong kiến, thực dân, đánh bại chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa đế quốc và các lực lượng phản động khác, xây dựng chế độ XHCN trên không gian thực sự rộng lớn của địa cầu. Trong đội ngũ các đảng tiền phong ấy, có Đảng Cộng sản Việt Nam do lãnh tụ Hồ Chí Minh sáng lập, tổ chức, rèn luyện.

Tuy nhiên, hơn một thế kỷ đã trôi qua kể từ khi Lênin nêu ra học thuyết xây dựng chính đảng của giai cấp vô sản nhưng, về cơ bản, học thuyết này chưa được bổ sung, phát triển thật sự ngang tầm yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng Đảng ta trong bối cảnh mới của thế giới và đất nước. Đội ngũ hơn 4 triệu đảng viên hiện nay, tuy rất hùng hậu về số lượng so với 5 nghìn đảng viên thời kỳ Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, nhưng có thật là một bộ tham mưu chiến đấu có tổ chức, một thực thể dám phê bình và tự phê bình kịp thời đủ dũng khí đưa ra khỏi tổ chức của mình những phần tử không còn xứng đáng, một đứa con nòi gắn bó máu thịt với nhân dân, nhân tố luôn luôn giữ được thực quyền lãnh đạo các quá trình đang diễn ra trên đất nước...? Thực trạng đáng báo động và nguy cơ không thể xem thường này không chỉ là hậu quả của các hạn chế, yếu kém trong hoạt động thực tiễn về xây dựng Đảng, mà sâu xa hơn là từ lý luận xây dựng Đảng chưa được bổ sung, đổi mới kịp thời.

Thách thức nóng bỏng hiện nay và nhiều năm tới đối với lý luận và thực tiễn xây dựng Đảng là làm gì để không cho các cơ chế thị trường thay thế vai trò lãnh đạo của Đảng; bổ sung nguyên tắc gì để Đảng, Nhà nước không thể xa rời mục tiêu, lợi ích của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức và nhân dân lao động trong từng chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội; xác lập thêm nguyên tắc, cơ chế gì để phòng, chống có hiệu quả ngay trong trứng nước nguy cơ đổi hướng, đổi màu từ Trung ương đến cơ sở; làm gì để khắc phục tình trạng các chi bộ, đảng bộ sinh hoạt đều đặn hàng tháng nhưng hầu như không bao giờ kiểm điểm ra các vụ tham nhũng lớn có thủ phạm là người trong chi bộ, đảng bộ mình? v.v...

Bên cạnh đó, cuộc đấu tranh tư tưởng càng ngày càng gay gắt, phức tạp. Trong 30 năm qua, CNXH ở Việt Nam đã được đổi mới kịp thời, có hiệu quả cả về lý luận và thực tiễn, đã vượt qua thách thức lịch sử, trụ vững, phát triển và thể hiện nhiều tiềm năng trong tương lai. Chính những hiện thực tốt đẹp này là những nhân tố hàng đầu đảm bảo cho chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục củng cố vai trò, vị trí chủ đạo trong đời sống tư tưởng đất nước trong những năm tới. Mặt khác, như lịch sử đã chứng minh, ngay trong thời kỳ thành lập Đảng rồi đến các thời kỳ đấu tranh chống thực dân, phong kiến, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng CNXH..., đều đã xuất hiện trong Đảng và nhân dân những khuynh hướng tư tưởng “tả” khuynh, giáo điều, cực đoan và hữu khuynh, cải lương, xét lại... Trong thời gian tới, như hệ quả của một tồn tại kinh tế nhiều thành phần và cơ cấu xã hội đa nguyên, các nguy cơ “tả” khuynh và hữu khuynh sẽ có nhiều cơ hội nảy sinh, bùng phát.

Tư tưởng xã hội dân chủ có nhiều cơ hội thâm nhập vào một số tầng lớp xã hội, nhất là tầng lớp trung lưu, trí thức, doanh nhân, sinh viên... Nó sẽ tuyệt đối hóa mục tiêu, nhiệm vụ trước mắt, thủ tiêu mục tiêu cuối cùng là xây dựng CNXH, chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam. Tư tưởng tự do tư sản phương Tây, trong đó có tư tưởng tự do kiểu Mỹ, sẽ tìm cách hiện diện trong đời sống kinh tế - xã hội, văn hóa, tinh thần và chính trị của đất nước. Những mảnh đất trong trận địa tư tưởng mà họ muốn tranh chấp quyết liệt với ta có thể là: xã hội công dân, nhà nước pháp quyền, tự do tôn giáo, nhân quyền, tự do báo chí, nền kinh tế “giải điều tiết hóa”, tự do thương mại, phi chính trị hóa các lực lượng vũ trang, đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập...

Sự ra đời của mỗi khuynh hướng tư tưởng phản ánh sự tồn tại, vị thế của một lực lượng vật chất hoặc một tồn tại xã hội nhất định. Cạnh tranh, đấu tranh tư tưởng, suy cho cùng, chính là biểu hiện của cạnh tranh, đấu tranh kinh tế - xã hội. Sự nghiệp xây dựng CNXH chỉ thành công khi giai cấp công nhân với đội tiền phong của mình là đảng cộng sản nhận thức kịp thời, có ý thức sâu sắc và luôn luôn tự giác hành động như chủ thể của một thực tiễn sáng tạo. Chính vì vậy, các nhà kinh điển đã nhiều lần khẳng định yêu cầu vượt trước và vai trò định hướng của công tác tư tưởng nói chung, trong đó có công tác báo chí trong suốt chiều dài của cách mạng XHCN.

Kế thừa và phát triển, giữ vững tính Đảng và nâng cao chất lượng học thuật, đảm bảo bản sắc riêng và hiện đại hóa là các phương hướng đổi mới và phát triển của báo chí Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trong thời kỳ mới. Nhân kỷ niệm 40 năm ra đời và phát triển của Tạp chí Lý luận chính trị - một trong những cánh chim đầu đàn của báo chí lý luận chính trị của cả nước, xin được đóng góp một số suy nghĩ, ý tưởng với tất cả sự trân trọng và niềm tin của người đồng hành, người trong cuộc.

PGS, TS Nguyễn Viết Thảo, Phó Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

ALBUM ẢNH

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang truy cập: 207 Hôm nay: 2184 Tháng hiện tại: 146670 Tổng lượt truy cập: 7442517

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về Phòng Thông tin điện tử
Số 135 Nguyễn Phong Sắc, Cầu Giấy, Hà Nội
Email: ttdt@npa.org.vn;
Trân trọng cảm ơn!
LÊN ĐẦU TRANG