87 năm Đảng Cộng sản Việt Nam – Những dấu ấn lịch sử

Nhân dịp Kỷ niệm 87 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930-3/2/2017), Trang Thông tin điện tử Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trân trọng giới thiệu bài viết "87 năm Đảng Cộng sản Việt Nam – Những dấu ấn lịch sử" của GS,TS Mạch Quang Thắng, Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Bài viết đã được đăng tải trên Tạp chí Lý luận chính trị, số 01/2017

Đầu năm 1960, trong dịp Kỷ niệm Đảng Cộng sản Việt Nam tròn 30 tuổi, Hồ Chí Minh khẳng định: 30 năm ra đời và hoạt động của Đảng là “một pho lịch sử bằng vàng”. Vào thời điểm mùa Xuân năm 2017, Đảng đã trải qua 87 năm lãnh đạo cách mạng, giành được những thắng lợi vĩ đại, đưa dân tộc vững bước tiến lên CNXH. Vậy lịch sử của Đảng 87 năm qua có đúng là pho lịch sử bằng vàng?

Đánh giá về quá trình 87 năm ra đời và hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam phải dựa trên tiêu chuẩn của sự thật. Việc nhận thức về sự thật là cả một quá trình, có khi nhận thức đi nhận thức lại nhiều lần vì nhiều lý do, trong đó có lý do phải cập nhật thông tin, cứ liệu để nhận cho rõ, cho đúng những sự thật. Một số người do có cái tâm không trong sáng, mang nặng tư tưởng thù địch, nên họ bất chấp sự thật, xuyên tạc, bóp méo sự thật lịch sử, chống đối chế độ XHCN mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn, muốn lái đất nước đi chệch định hướng XHCN.

Trong 87 năm qua, sự thật là Đảng Cộng sản Việt Nam đã ghi những dấu ấn quan trọng nào cho sự phát triển của dân tộc Việt Nam?

1. Đảng bước lên vũ đài chính trị đại diện cho lợi ích của nhân dân và toàn dân tộc.

Có người nghi ngờ tính chính đáng sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, cho rằng, sự ra đời của Đảng không phải từ tất yếu phát triển của quá trình biến chuyển về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Thậm chí, một số người còn cho rằng, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là do có cả yếu tố ngoại lai, ý nói là do chủ nghĩa Mác – Lênin từ bên ngoài đất nước ảnh hưởng vào chứ không phải do xuất phát từ tính tất yếu nội tại; rằng, sự hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam là do Quốc tế Cộng sản thúc ép, thông qua một cán bộ của Quốc tế Cộng sản là Nguyễn Ái Quốc đứng ra triệu tập và dùng cái uy cá nhân của mình mà tiến hành, v.v…

Những ý kiến trên đây là không đúng. Sự thật là từ khi thực dân Pháp thiết lập chế độ chính trị kép (thuộc địa – phong kiến) ở Việt Nam thì xã hội Việt Nam đã dần phân hóa và xuất hiện một yêu cầu chung ở trong lòng các giai tầng (hay có thể gọi là “mẫu số chung”) là yêu cầu giải phóng dân tộc. Các phong trào giải phóng dân tộc theo hệ tư tưởng phong kiến và hệ tư tưởng tư sản đều thất bại vì không đáp ứng được xu thế phát triển của dân tộc Việt Nam. Như một điều tất yếu, xã hội Việt Nam chấp nhận các phong trào giải phóng dân tộc theo lý luận Mác - Lênin và nó được truyền bá vào Việt Nam rồi được khẳng định một cách chắc chắn. Các tổ chức cộng sản ở Việt Nam ra đời là xuất phát từ trong lòng cuộc vận động tất yếu của sự kết hợp lý luận Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Nguyễn Ái Quốc, vào thời điểm cuối năm 1929 đầu năm 1930, với tư cách là cán bộ của Quốc tế Cộng sản, nhận trách nhiệm góp phần chỉ đạo phong trào cách mạng ở châu Á, đứng ra triệu tập hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam là hợp với quy luật vận động của xã hội Việt Nam; sự ra đời đó là tất yếu, đáp ứng đòi hỏi của lịch sử phát triển dân tộc khi đã trải qua nhiều cuộc khảo nghiệm. Hoàn cảnh lịch sử đất nước đã lựa chọn mục tiêu và con đường phát triển đó chứ không phải là do có sự áp đặt. Và, điều cần nhấn mạnh rằng, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam với Cương lĩnh chính trị đầu tiên rất đúng đắn đã đặt nền móng cho truyền thống đoàn kết, trí tuệ, kỷ cương của Đảng.

2. Đảng đã lãnh đạo toàn dân đấu tranh thiết lập một chế độ chính trị mới, đưa nhân dân lên làm người chủ đất nước

Thực dân Pháp xâm lược Đông Dương, thiết lập một Liên bang Đông Dương thuộc Pháp, mở rộng địa giới nước Pháp ra hải ngoại. Như vậy, Việt Nam đã bị mất tên trên trên bản đồ chính trị thế giới, nhân dân Việt Nam bị biến thành dân nô lệ. Trong 15 năm (1930-1945), Đảng đã lãnh đạo nhân dân dấu tranh giải phóng dân tộc. Và kết quả là với thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Việt Nam đã giành được độc lập dân tộc, đánh đổ xiềng xích thực dân hơn 80 năm, đứng về phe Đồng minh chống chủ nghĩa phát xít, đánh đổ chế độ chuyên chế phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Với thắng lợi này, Đảng đã trở thành một Đảng cầm quyền. Sự cầm quyền này không phải tự nhiên mà có, không phải tự nhận mà được. Cuộc cách mạng Tháng Tám năm 1945 nổ ra trong khoảng một tuần lễ tuy không đổ máu, nhưng là kết quả của 15 năm đấu tranh gian khổ tù đày, máu chảy đầu rơi trong các thời kỳ 1930-1931, 1932-1935, 1936-1939 và 1939-1945, với biết bao sự hy sinh của những người cộng sản cùng những người yêu nước. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 không phải là do ăn may, không phải là sự đảo chính như một số người xuyên tạc. Thắng lợi này ghi công lao đầu tiên cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc do Đảng lãnh đạo. Đảng xứng đáng được nhân dân trao cho quyền lãnh đạo đất nước, đại diện cho nhân dân đưa đất nước tiến bước vào một chế độ chính trị mới nhằm thực hiện mục tiêu mà Cương lĩnh chính trị của Đảng đề ra, phù hợp với xu thế phát triển của dân tộc và nguyện vọng của nhân dân Việt Nam. Với thắng lợi này, nhân dân Việt Nam từ người nô lệ trở thành người làm chủ đất nước. Đảng, với trách nhiệm lớn lao và với bản lĩnh chính trị cũng như tài trí của mình, đã làm tròn nhiệm vụ do nhân dân giao là giành thắng lợi trong một cuộc cách mạng để mở ra một kỷ nguyên mới của cả dân tộc – kỷ nguyên độc lập, tự do và CNXH.

3. Đảng đã lãnh đạo tiến hành thắng lợi sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc

Một đất nước Việt Nam yêu hòa bình, trọng nhân nghĩa, hòa hiếu, nhưng thường xuyên bị nhiều thế lực ngoại xâm hùng mạnh đến xâm chiếm. Cây muốn lặng nhưng gió chẳng đừng. Giành được độc lập rồi nhưng nhân dân Việt Nam buộc phải cầm vũ khí đứng lên bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ các thành quả cách mạng mà thể hiện rõ nhất là hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, chống lại bọn xâm lấn biên giới phía Tây Nam cũng như ở biên giới phía Bắc.

Một số ý kiến nêu lên rằng, Việt Nam không cần tiến hành kháng chiến chống Pháp, không cần kháng chiến chống Mỹ vì cái giá phải trả bằng xương máu quá đắt; rằng, Việt Nam hãy cứ như nhiều nước “chấp nhận” sự có mặt của các thế lực hùng mạnh trên thế giới chiếm đóng nước mình rồi thế nào các nước đó cũng trao lại độc lập! Ý kiến này thật là ảo tưởng! Đảng, với trách nhiệm được nhân dân giao phó, đã lãnh đạo toàn dân đứng lên bảo vệ nền độc lập, tự do cho Tổ quốc, kiên trì cho một nền hòa bình chân chính chứ không phải là hòa bình giả hiệu, hòa bình viển vông, chịu sự luồn cúi, cầu xin hòa bình từ thế lực ngoại bang. Chúng ta không chống lại các thế lực đó, nếu họ không xâm lược Việt Nam. Đảng, trong chiến tranh giải phóng, bảo vệ Tổ quốc, đã làm theo đúng lẽ phải, thuận với tạo hóa là bảo vệ các quyền dân tộc cơ bản và thiêng liêng của dân tộc mình: độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Với tài trí lãnh đạo của mình, Đảng đã đưa dân tộc Việt Nam đứng vào hàng ngũ các dân tộc tiên phong trên thế giới đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới, đấu tranh cho lẽ phải, công bằng và tiến bộ trên thế giới.

4. Đảng đã khởi xướng và lãnh đạo sự nghiệp đổi mới đất nước

30 năm đổi mới toàn diện đất nước chiếm gần một phần ba lịch sử chặng đường 87 năm Đảng xây dựng và lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Cần thẳng thắn và công bằng mà khẳng định rằng, sự nghiệp đổi mới của Việt Nam bắt nguồn từ nguyện vọng và từ sáng kiến của nhân dân. Đảng đã nghiên cứu nắm bắt tình hình thực tiễn, tổng kết kinh nghiệm từ cơ sở để đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, bắt đầu từ Đại hội VI (12-1986). Sự nghiệp đổi mới đất nước, xuất phát từ yêu cầu bức bách trong quá trình phát triển của đất nước. Đảng và nhân dân Việt Nam thực sự trở thành người khởi xướng sự nghiệp vĩ đại này. Đây là “cuộc chiến khổng lồ”, theo cách nói của Hồ Chí Minh trong Di chúc, chống lại cái cũ, lạc hậu để tạo ra các mới mẻ, tốt tươi. Trong sự nghiệp đổi mới, Đảng tiếp tục khẳng định những vấn đề cơ bản nhất cho sự phát triển của dân tộc:

- Đổi mới đất nước vì mục tiêu của CNXH chứ không phải để mất CNXH. Do đó, kiên trì và vận dụng sáng tạo lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động; không chấp nhận một chế độ đa nguyên chính trị và đa đảng đối lập; mở cửa, hợp tác, đa phương, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; tích cực, chủ động hội nhập quốc tế; bảo đảm an ninh quốc phòng, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; vì sự phát triển bền vững của đất nước và vì sự tiến bộ trên toàn thế giới;

- Đổi mới là sự nghiệp của toàn dân, nhân dân tiếp tục giao phó cho Đảng lãnh đạo sự nghiệp này;

- Đảng tiếp tục là nhân tố hàng đầu quyết định thành công của sự nghiệp đổi mới. Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là điều kiện tiên quyết cho thành công của sự nghiệp cách mạng. Đảng phải luôn luôn tự đổi mới, tự chỉnh đốn để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của mình, tiếp tục xứng đáng vừa là người lãnh đạo vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân;

- Tiếp tục xây dựng, củng cố và phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh quốc tế, tạo động lực xây dựng đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh;

- Từng bước xác lập một cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH.

5. Sự ra đời và phát triển của Đảng gắn liền với sự nghiệp của Hồ Chí Minh

Sự ra đời cũng như các chặng đường phát triển của Đảng và dân tộc từ năm 1930 trở đi đều ghi dấu ấn công lao to lớn của Hồ Chí Minh - “ Anh hùng dân tộc vĩ đại”[1]; được Tổ chức UNESCO khẳng định là một “nhân vật kiệt xuất”; là “Anh hùng giải phóng dân tộc và là Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam”[2]; là “Bác Hồ” của những thế hệ người Việt Nam từ năm 1941 khi Người về nước.

Mặc cho các thế lực thù địch tìm mọi cách xuyên tạc, đả kích cuộc đời, sự nghiệp của Hồ Chí Minh, nhưng tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người luôn ngời sáng. Hồ Chí Minh chính là sự kết tinh trí tuệ, bản lĩnh, sự tổ chức tài ba sự nghiệp cách mạng Việt Nam, đưa đất nước phát triển đúng định hướng, là sự quy tụ hướng mọi người Việt Nam yêu nước vào một véc tơ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hồ Chí Minh là biểu tượng sáng ngời cho chân – thiện – mỹ, cho độc lập, tự do; Người làm rạng danh cho đất nước, cho phòng trào cộng sản, công nhân quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc, phong trào đấu tranh vì sự tiến bộ xã hội. Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần quý báu của Đảng và dân tộc, luôn luôn có trong hành trang của dân tộc Việt Nam tiến lên phía trước. Ở đâu có đấu tranh chống áp bức, bất công, ở đó có tư tưởng Hồ Chí Minh; ở đâu có sự phát triển tiến bộ, ở đó có tư tưởng Hồ Chí Minh. Đảng và cả dân tộc Việt Nam tự hào có Hồ Chí Minh. Đả kích, xuyên tạc, bôi đen cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh chính là những hành động phản văn hóa, cần lên án.

Trong chặng đường 87 năm ra đời và phát triển, bên cạnh những thành tựu, Đảng còn có nhiều hạn chế. Đó là những căn bệnh giáo điều, tả khuynh, chủ quan, duy ý chí trong tiến hành cải cách ruộng đất, trong cải tạo, xây dựng nền kinh tế, phát triển văn hóa, xã hội và hạn chế ngay cả trong xây dựng bản thân Đảng. Đảng thẳng thắn thừa nhận những hạn chế đó và tìm cách khắc phục theo tinh thần của Hồ Chí Minh: một đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một đảng hỏng; một đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, xem xét những khuyết điểm ấy do đâu mà có rồi nghiêm túc sửa chữa những khuyết điểm đó thì đảng đó mới là một đảng cách mạng, chân chính, chắc chắn.

Một số người lợi dụng những hạn chế của Đảng để thổi phồng, xuyên tạc, làm mất uy tín của Đảng, chia rẽ Đảng với dân, dân với Đảng, phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Những hạn chế trong tổ chức và trong một số cán bộ, đảng viên đang làm hoen ố thanh danh của Đảng, thật đáng lên án, nhưng không thể nào làm biến chất của Đảng Cộng sản Việt Nam – Đảng của Hồ Chí Minh. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII “về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” là sự thể hiện quyết tâm của Đảng trong xây dựng, chỉnh đốn bản thân Đảng, bởi vì mọi sự đổi mới phải bắt đầu từ trung tâm, từ hạt nhân. Trong 87 năm qua, Đảng ta cũng còn không ít khuyết điểm, hạn chế nhưng điều quan trọng là thấy rõ những khuyết điểm, hạn chế đó để sửa chữa như tinh thần của Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII.

Lịch sử 87 năm của Đảng Cộng sản Việt Nam thật sự là một pho lịch sử bằng vàng. Đó là sự thật không ai có thể xuyên tạc hay phủ nhận được. Một số ít người có thể xuyên tạc, đặt điều, nhưng sự thật vẫn là sự thật. Không thể vì một số hạn chế trong quá trình lãnh đạo của Đảng mà phủ nhận cái chất “vàng mười” đó. Vấn đề lớn nhất là chất vàng này cần luôn luôn được luyện trong lửa để vàng càng ngày càng trong. Điều này cần đến trí tuệ và hành động tích cực của mỗi đảng viên, trong đó đặc biệt là của cán bộ chủ chốt của Đảng và cả hệ thống chính trị. /.

GS,TS Mạch Quang Thắng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

[1] Ban Chấp hành Trung ương Đảng: Điếu văn tại Lễ Truy điệu Hồ Chí Minh năm 1969 và Báo cáo chính trị tại Đại hội VI của Đảng năm 1976.

[2] UNESCO: Nghị quyết 18.6 của Đại hội đồng, phiên họp lần thứ 24 tại Pháp năm 1987 Kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Hồ Chí Minh. 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

ALBUM ẢNH

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang truy cập: 62 Hôm nay: 497 Tháng hiện tại: 165457 Tổng lượt truy cập: 7461304

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về Phòng Thông tin điện tử
Số 135 Nguyễn Phong Sắc, Cầu Giấy, Hà Nội
Email: ttdt@npa.org.vn;
Trân trọng cảm ơn!
LÊN ĐẦU TRANG