CHẶNG ĐƯỜNG LỊCH SỬ VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HỌC VIỆN
            1. Nguyễn Ái Quốc - Người mở đầu sự nghiệp giáo dục, đào tạo cán bộ của Đảng (1924-1945)

            Khởi đầu sự nghiệp giáo dục, đào tạo cán bộ của Đảng, tháng 12/1924, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã từ Liên Xô đến Quảng Châu (Trung Quốc) trực tiếp truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin và đường lối cách mạng vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Tại đây, Người đã lựa chọn những người yêu nước có chí lớn tổ chức nhiều lớp huấn luyện, đào tạo để truyền bá lý luận, đường lối và phương pháp hoạt động cách mạng cho họ. Nội dung, chương trình huấn luyện ở các lớp học này nhằm giải quyết vấn đề cấp bách lúc bấy giờ là sự khủng hoảng về đường lối cứu nước. Qua học tập, người học được tiếp thu lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, những bài học lịch sử của cách mạng thế giới, hiểu rõ mâu thuẫn xã hội, tính chất và mục đích cách mạng, giai cấp lãnh đạo, phương pháp và bước đi của cách mạng Việt Nam. Hiệu quả to lớn của các lớp huấn luyện, đào tạo cán bộ ở Quảng Châu là giúp cho những người yêu nước từ nhiều xu hướng chính trị và tổ chức khác nhau thống nhất về phương hướng, đồng tâm nhất trí tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường mà đồng chí Nguyễn Ái Quốc vạch ra, làm cho chủ nghĩa Mác-Lênin và đường lối cứu nước của đồng chí Nguyễn Ái Quốc thấm sâu vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước, đưa đến sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3-2-1930.

            Khi trở về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng trong nước, đồng chí Nguyễn Ái Quốc mở nhiều lớp huấn luyện, đào tạo cán bộ phục vụ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Hội nghị Trung ương 8 tháng 5-1941 chỉ rõ: "Việc đào tạo cán bộ nay đã trở thành một công tác gấp rút, không thể bỏ qua một giờ, một phút. Tất cả các cấp chỉ huy của Đảng phải đặc biệt chú ý công tác này". Không chỉ mở lớp huấn luyện chính trị mà còn phải mở lớp huấn luyện quân sự. Hội nghị toàn quốc của Đảng (15-8-1945) quyết định "Trung ương phải đặc biệt mở lớp huấn luyện cán bộ, cán bộ bắt buộc chịu huấn luyện theo chương trình phổ thông của Đảng".

1TranPhu.jpg

TRẦN PHÚ

2LeeHoongfPhong.jpg

LÊ HỒNG PHONG

3NgoGiaTu.jpg

NGÔ GIA TỰ

4NguyenDucCanhr.jpg

NGUYỄN ĐỨC CẢNH

5TruongChinh.jpg

TRƯỜNG CHINH

6PhamjVanDDoongf.jpg

PHẠM VĂN ĐỒNG

Những đồng chí học viên xuất sắc thời kỳ đầu do Chủ tịch Hồ Chí Minh đào tạo

            Nhờ có đường lối cách mạng, đường lối xây dựng Đảng và đào tạo cán bộ đúng đắn, với 5.000 đảng viên, Đảng ta đã lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám thành công, xoá bỏ chế độ thuộc địa nửa phong kiến ở nước ta, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, mở ra kỷ nguyên mới của lịch sử dân tộc, kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

            2. Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc phục vụ công cuộc kháng chiến  kiến quốc trong những năm 1945-1954

            Sau Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ VI (14 đến18-01-1949), thực hiện chủ trương của Đảng về công tác huấn luyện cán bộ phục vụ sự nghiệp cách mạng, Trường Đảng Trung ương Nguyễn Ái Quốc trở thành Trường huấn luyện cán bộ hoạt động thường xuyên. Đây là mốc quan trọng đặc biệt của lịch sử Học viện, đánh dấu bước phát triển mới trong công tác huấn luyện, đào tạo cán bộ của Đảng. Lúc này với vai trò là nòng cốt của phong trào huấn luyện và học tập trên toàn quốc. Trường đã đào tạo một đội ngũ huấn luyện viên cho các cấp, bao gồm huấn luyện viên chuyên nghiệp và cán bộ lãnh đạo được sử dụng làm huấn luyện viên kiêm chức. Trường Đảng đã bám sát nhiệm vụ chính trị, việc coi trọng quán triệt đường lối cách mạng, đồng thời hết sức coi trọng việc giáo dục phẩm chất, giáo dục tác phong lề lối làm việc cho cán bộ.

            Địa điểm đầu tiên của Trường Đảng Trung ương Nguyễn Ái Quốc đặt  tại Làng Luông, xã Bình Thành, huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên.  Tháng 9-1949, trong ngày khai giảng lớp lý luận dài hạn khoá II, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tới thăm trường và nói chuyện với học viên, Người đã ghi vào cuốn Sổ vàng nhà trường những lời huấn thị bất hủ:

000006.jpg

Tiếp theo các lớp lý luận dài hạn khoá I và khoá II, nhà trường đã mở liên tiếp các lớp khác. Các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước đã thường xuyên đến giảng bài tại các lớp học.


TBThu TChinh voi hvien1949.jpg

Đồng chí Trường Chinh với học viên Trường Nguyễn Ái Quốc năm 1949 tại làng Luông,
xã Bình Thành,huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên

dc_phamvandong_voi hocvien.jpg

Đồng chí Phạm Văn Đồng với học viên Trường Nguyễn Ái Quốc năm 1949 tại làng Luông,
xã Bình Thành, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên

             Nhân tố quan trọng để đảm bảo hiệu quả huấn luyện là giảng viên, Bác Hồ khẳng định: "Muốn huấn luyện thợ rèn, thợ nguội thì người huấn luyện phải thạo nghề rèn, nghề nguội. Người huấn luyện của đoàn thể phải là kiểu mẫu của mọi mặt: tư tưởng, đạo đức, lối làm việc. Người huấn luyện phải học thêm mãi thì mới làm được việc huấn luyện của mình ... Người huấn luyện nào tự cho mình đã biết đủ cả rồi thì người đó dốt nhất". Huấn thị trên đây của Chủ tịch Hồ Chí Minh soi sáng cho công tác giáo dục - đào tạo của Học viện trong các giai đoạn phát triển.


Lop hoc NAQ1949.jpg

Hội trường, lớp học Trường Nguyễn Ái Quốc năm 1949 tại làng Luông,
xã Bình Thành,huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên

Tháng 8-1950, Trường chuyển lên xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang

29.jpg

Chủ tịch Hồ Chí Minh với cán bộ, nhân viên trường Nguyễn Ái Quốc năm 1951
tại xã Kim Bình, huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang

 Tháng 2-1951, Đại hội toàn quốc lần thứ II của Đảng quyết định đường lối, chủ trương đẩy mạnh kháng chiến, đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng để lãnh đạo kháng chiến đến toàn thắng. Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh "Học tập chủ nghĩa, dùi mài tư tưởng, nâng cao lý luận, chỉnh đốn tổ chức là những việc cần kíp của Đảng"

Thực hiện Nghị quyết Đại hội, ngày 31/5/1951 Trường mở khoá học mới tại địa điểm mới của trường là khu đồi lịch sử - nơi vừa tổ chức Đại hội toàn quốc lần thứ II. Khoá học trong 5 tháng rưỡi, có 222 học viên gồm cán bộ chính trị, quân sự, cán bộ công tác vùng địch tạm chiến và vùng tự do, cả Bắc, Trung, Nam, và cán bộ làm nhiệm vụ quốc tế giúp cách mạng Lào và Cam-pu-chia.

Từ năm 1952, cuộc kháng chiến của nhân dân ta phát triển ngày càng mạnh mẽ, giành nhiều thắng lợi cả về quân sự, chính trị, kinh tế. Thực dân Pháp ngoan cố kéo dài chiến tranh, thực hiện chính sách "dùng người Việt đánh người Việt" và tăng thêm viện binh từ Pháp sang; đế quốc Mỹ can thiệp ngày càng sâu vào cuộc chiến tranh Việt Nam làm cho chiến tranh càng thêm quyết liệt và có xu thế kéo dài. Trong khi đó, một số cán bộ, đảng viên có biểu hiện tư tưởng chủ quan, không thấy hết tính chất lâu dài và gian khổ của cuộc kháng chiến, muốn thắng mau, mặt khác nảy sinh tư tưởng ỷ lại vào viện trợ bên ngoài; về tác phong cũng có một số sai trái, quan liêu mệnh lệnh, không quan tâm đến quyền lợi thiết thân của quần chúng; trong chấp hành chính sách thì mắc bệnh hữu khuynh... Tất cả những thiếu sót đó ảnh hưởng không tốt đến mọi mặt công tác, nhất là trong lúc cần đẩy mạnh kháng chiến, đảm bảo tiến lên giành thắng lợi lớn.

Yêu cầu của kháng chiến và xây dựng Đảng lúc này đòi hỏi Đảng phải tiến hành một đợt giáo dục chính trị, tư tưởng tập trung quy mô toàn Đảng, toàn quân và trong toàn thể cán bộ kháng chiến. Đáp ứng yêu cầu đó, Trung ương đã chỉ thị tiến hành chỉnh huấn, coi đây là một công tác lớn của Đảng. Trường Đảng trung ương đã tập trung phục vụ chỉnh huấn, tiến hành mở các lớp chỉnh huấn cho cán bộ ở trung ương và cán bộ chủ chốt cấp liên khu và tỉnh, thành. Từ tháng 8-1952 đến tháng 6 -1953 Trường Đảng đã mở liên tiếp nhiều lớp chỉnh huấn đạt kết quả tốt.

chi bo 1 lop hoc vien 1953.jpg

Chi bộ 1 lớp học viên năm 1953 tại Việt Bắc

Do hoàn cảnh kháng chiến, trường phải chuyển địa điểm nhiều lần ở các huyện Yên Sơn và Sơn Đông tỉnh Tuyên Quang. Trước khi chuyển về Hà Nội, trường chuyển đến huyện Đan Phượng tỉnh Hà Đông và tiếp tục mở các lớp học, trong đó có các lớp cán bộ miền Nam. Trong thời kỳ phục vụ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, trường đã đào tạo, bồi dưỡng được 5.750 cán bộ.

Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước giao phục vụ sự nghiệp cách mạng chống thực dân Pháp xâm lược, góp phần vào thắng lợi giải phóng hoàn toàn miền Bắc vào năm 1954.

3. Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc Trung ương trong thời kỳ Đảng lãnh đạo thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng (1954-1975).

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, cách mạng nước ta chuyển sang giai đoạn mới - giai đoạn tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Miền Nam, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc Trung ương chuyển từ Việt Bắc về thủ đô Hà Nội. Nhà trường tiếp tục thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phục vụ sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới. Ngày 8-2-1957 Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 8 nhấn mạnh tầm quan trọng của việc học tập lý luận trong giai đoạn cách mạng mới. Ngày 7-9-1957, nhà trường khai giảng khoá học lý luận dài hạn đầu tiên, mở đầu thời kỳ giáo dục lý luận một cách cơ bản. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến dự lễ khai giảng và đọc Diễn văn khai mạc. Cuối năm 1958, Trung ương cho xây dựng khu trường mới với quy mô lớn khang trang hơn, đảm bảo việc ăn ở học tập, làm việc cho gần 1000 cán bộ, học viên. Đây chính là cơ sở Học viện hiện nay. Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III, ngày 26-3-1962, Bộ Chính trị họp chuyên đề về cải cách công tác giáo dục lý luận của Đảng, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 52/NQ-TW ghi rõ: "hướng cố gắng chính của trường Đảng trong việc cải tiến học tập hiện nay là phải không ngừng tăng cường lý luận với thực tiễn". Bộ Chính trị quyết định Trường mang tên Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương. Trong thời kỳ này, trường đã có những bước phát triển liên tục và vững chắc trong công tác giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học. Quá trình trưởng thành của nhà trường là quá trình nắm vững quan điểm giáo dục của Đảng và Hồ Chí Minh về giáo dục trong trường Đảng; là quá trình không ngừng cải tiến từ nội dung đến phương châm, phương pháp giáo dục; đồng thời, đó là quá trình tự đào tạo đội ngũ cán bộ giảng dạy và nghiên cứu về phẩm chất, đạo đức và trình độ lý luận để đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước giao phó. Đó cũng là quá trình trường không ngừng phát triển về mặt cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ giảng dạy, nghiên cứu. Hàng vạn cán bộ đã được đào tạo, bồi dưỡng cơ bản và kịp thời phục vụ cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và giải phóng miền Nam. Nhiều đồng chí học xong đã lên đường vào miền Nam tham gia chiến đấu.

Song song với công tác đào tạo lý luận chính trị, từ năm 1966 đến 1975, công tác nghiên cứu khoa học của trường cũng được quan tâm đúng mức, có nhiều công trình nghiên cứu góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và cung cấp căn cứ khoa học cho Đảng, Nhà nước hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách và tổ chức chỉ đạo thực hiện.

Trong thời kỳ này Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương đã đào tạo 43.075 cán bộ cho các ngành, các mặt trận và địa phương.

4. Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc trong thời kỳ đầu cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1975-1986)

Sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, tháng 9-1975, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá III) họp Hội nghị lần thứ 24, đề ra nhiệm vụ trước mắt là thống nhất đất nước về mặt Nhà nước, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Giai đoạn mới đặt ra cho sự nghiệp đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, nghiên cứu khoa học của trường Đảng những nhiệm vụ mới hết sức khẩn trương với quy mô lớn.

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (tháng 12-1976) đã chỉ rõ : "Ngày nay khi nước nhà đã được hoàn toàn độc lập và thống nhất, những vấn đề xây dựng chủ nghĩa xã hội đặt ra với tất cả chiều sâu, tầm cỡ rộng lớn và tính cụ thể của nó. Điều đó đòi hòi Đảng phải có sự nỗ lực đặc biệt trong công tác lý luận".

Ban Bí thư Trung ương khoá IV đã ra quyết định thành lập cơ sở 2 của trường tại thành phố Hồ Chí Minh, thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ từ tháng 2-1978.

Để làm tốt hơn nhiệm vụ giáo dục, đào tạo cán bộ trong giai đoạn cả nước tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, nhằm quán triệt hơn nữa phương châm gắn lý luận với thực tiễn, bảo đảm tính khoa học, tính chiến đấu trong nội dung giảng dạy, tạo phong cách suy nghĩ khoa học, độc lập và sáng tạo của người học, nhà trường đã tiến hành tổng kết công tác đào tạo, rút ra những bài học kinh nghiệm để chỉ đạo công tác giáo dục lý luận ở giai đoạn mới tốt hơn. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc luôn giữ vững truyền thống là một trong những trung tâm truyền thụ trung thành chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng; góp phần quan trọng vào việc nâng cao trình độ lý luận chính trị cho cán bộ trung, cao cấp của Đảng, tăng cường sự nhất trí trong Đảng và giúp cho cán bộ hoàn thành các nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước đề ra.

Ngày 01/10/1978, Ban Bí thư ra Chỉ thị số 54/CT-TW "về nhiệm vụ của Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc trong giai đoạn mới". Trung ương đặt rõ nhiệm vụ cơ bản của trường: Một là, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cao, trung cấp về lý luận chính trị; hai là, nghiên cứu lý luận nhằm làm tốt việc giảng dạy, đồng thời góp phần vào công tác lý luận chung của Đảng.

Chỉ thị của Ban Bí thư nhấn mạnh: "là công cụ quan trọng của Đảng trên mặt trận tư tưởng và lý luận, Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc phải đi đầu trong việc giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin, bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin, đấu tranh không khoan nhượng chống chủ nghĩa cơ hội và xét lại dưới mọi màu sắc, chủ nghĩa sô-vanh nước lớn, bảo vệ đường lối cách mạng và các quan điểm của Đảng, làm nổi bật việc Đảng ta vận dụng một cách độc lập, tự chủ và sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta để lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác".

Ngày 5/3/1982, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 06-CT/TW về công tác đào tạo cán bộ lý luận ở Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc.

Ngày 20/6/1983 Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 163-CT về việc đưa công tác đào tạo ở trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc vào quy chế đại học và trên đại học. Nhà trường đã hình thành cơ cấu các hệ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ như sau :

- Hệ đào tạo cán bộ dự nguồn cho các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng và đoàn thể nhân dân từ cấp tỉnh, thành phố trở lên;

- Hệ bồi dưỡng cơ bản 08 tháng cho cán bộ lãnh đạo chủ chốt đương chức của Đảng cấp tỉnh, thành phố và các ban, ngành Trung ương, tuổi trên 45;

- Hệ nâng cao trình độ, cập nhật kiến thức mới cho các cán bộ đã học xong chương trình cơ bản thuộc hai loại trên;

- Hệ chuyên tu - nghiên cứu sinh, đào tạo cán bộ lý luận có trình độ sau đại học (thạc sĩ, tiến sĩ). Từ năm 1964, Trường đã mở các khóa nghiên cứu sinh đào tạo Tiến sĩ và chuyên tu (sau này là cao học), theo 07 chuyên ngành lý luận chính trị;

- Hệ tại chức cho các lớp bồi dưỡng cơ bản, đào tạo cơ bản.

- Hệ đào tạo học viên quốc tế.

Cùng với công tác giáo dục, đào tạo nhà trường tập trung nghiên cứu nhiều đề tài khoa học, làm sáng tỏ hơn những chân lý khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, nhằm phục vụ việc nâng cao chất lượng đào tạo và góp phần cung cấp căn cứ khoa học cho Đảng, Nhà nước hoạch định đường lối, chính sách xây dựng chủ nghĩa xã hội.

5. Học viện Nguyễn Ái Quốc trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới (1986-1993)

Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Nhằm đáp ứng yêu cầu cao của sự nghiệp giáo dục, đào tạo cán bộ lãnh đạo và quản lý trung cao cấp, cán bộ làm công tác lý luận trong thời kỳ đầu của cuộc đổi mới, ngày 22-7-1986, Bộ Chính trị khóa VII ra Nghị quyết số 34/NQ-TW chuyển trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc thành Học viện Khoa học xã hội mang tên Nguyễn Ái Quốc trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (gọi tắt là Học viện Nguyễn Ái Quốc).

Ngày 26-10-1987, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra quyết định về chức năng, nhiệm vụ của Học viện, gồm:

- Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý trung cao cấp của Đảng, Nhà nước về mặt lý luận và chính trị; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lý luận Mác-Lênin có trình độ đại học và sau đại học;

- Nghiên cứu khoa học nhằm không ngừng nâng cao chất lượng và phương pháp đào tạo, đồng thời góp phần vào việc hình thành, phát triển và cụ thể hoá đường lối, chính sách của Đảng;

- Hướng dẫn 3 trường Đảng khu vực về nội dung, phương pháp giảng dạy và học tập, về nghiên cứu khoa học và xây dựng đội ngũ cán bộ;

- Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo cao, trung cấp và cán bộ lý luận do các Đảng bạn gửi sang về mặt lý luận và chính trị; tổ chức hợp tác quốc tế về đào tạo và nghiên cứu khoa học với các Học viện và các Trường Đảng cao cấp của các nước anh em.

Để thực hiện chức năng và nhiệm vụ nêu trên, Học viện đã khẩn trương biên soạn lại chương trình, giáo trình phù hợp với mục tiêu đào tạo; đổi mới phương pháp đào tạo, bồi dưỡng theo hướng gắn hoạt động giảng dạy, học tập và nghiên cứu với đời sống thực tiễn; Tập trung nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giảng dạy. Luân phiên cử cán bộ giảng dạy tham gia công tác thực tiễn ở các cấp uỷ đảng và cơ sở sản xuất để bồi dưỡng toàn diện. Tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật của Học viện, cải thiện một bước đời sống của giảng viên, cán bộ, công chức và học viên. Công tác nghiên cứu khoa học được đổi mới và đẩy mạnh theo hướng bám sát thực tiễn kinh tế - xã hội của nước ta ở chặng đầu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Từ năm 1987, hệ đào tạo nghiên cứu sinh của Học viện bắt đầu bảo vệ luận án tiến sĩ theo quy chế nhà nước. Quy mô hệ đào tạo cơ bản hai năm và đào tạo thạc sĩ tăng lên. Hệ đào tạo học viên quốc tế được hình thành cùng với việc thành lập Ban Quốc tế phụ trách công tác hợp tác quốc tế, trao đổi kinh nghiệm nghiên cứu khoa học, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của các đảng, các nước bạn.

Đội ngũ giảng viên, cán bộ nghiên cứu được bổ sung, nâng cao về trình độ khoa học và chất lượng công tác. Đầu năm 1989, Học viện đã có 25 giáo sư và phó giáo sư, 38 phó tiến sĩ.

Trong những năm đầu của công cuộc đổi mới, tình hình kinh tế của đất nước còn khó khăn, tình hình thế giới biến động phức tạp, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, song Học viện vẫn kiên định với mục tiêu lý tưởng của Đảng, kiên định với Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chi Minh, phát huy tốt vai trò của một trung tâm đào tạo, bồi dưỡng lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách của nhà nước cho cán bộ, đảng viên để thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới do Đảng đề ra.

6. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (từ 1993 đến nay)

Ngày 10-3-1993 Bộ Chính trị khóa VII ra Quyết định số 61/QĐ-TW "Về việc sắp xếp lại các trường Đảng Trung ương chuyển thành Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh". Quyết định của Bộ chính trị xác định rõ: "Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trực thuộc Ban chấp hành Trung ương Đảng và Chính phủ là trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và nghiên cứu khoa học về lý luận chính trị của Đảng và Nhà nước". Theo quyết định này, các Trường Nguyễn Ái Quốc khu vực I, II, III trực thuộc Trung ương trước đây, được chuyển thành Phân viện Hà Nội, Phân viện Thành phố Hồ Chí Minh, Phân viện Đà Nẵng và Trường Đại học Tuyên giáo trực thuộc Ban tuyên giáo Trung ương chuyển thành Phân viện Báo chí và Tuyền truyền trực thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

Ngày 22-6-1993, Chính phủ ban hành Nghị định số 44/CP, xác định ghi rõ: "Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh là cơ quan trực thuộc Chính phủ". Học viện đặt tại Hà Nội, có các Phân viện Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Phân viện Báo chí-Tuyên truyền.

Để tăng cường tiềm lực cả về số lượng và chất lượng cho công tác giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học trong giai đoạn mới, ngày 30/10/1996 Bộ Chính trị ra Quyết định số 07/QĐ-TW hợp nhất Viện nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh với Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, lấy tên là Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Sau hợp nhất, ngày 20-10-1999, Bộ Chính trị ra Quyết định 67/QĐ-TW "Về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh". Theo Quyết định này Học viện là trung tâm quốc gia về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đồng thời là trung tâm quốc gia về nghiên cứu khoa học của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Ngày 4-02-1997, Bộ Chính trị ban hành quyết định số 166/QĐNS/TW thành lập Ban Cán sự Đảng Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh để thay mặt Trung ương lãnh đạo, chỉ đạo công tác giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học và các hoạt động khác của hệ thống Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

Ngày 03-02-2004, Ban Cán sự Đảng Học viện ra Nghị quyết số 04/NQ-BCS về "Một số chủ trương và giải pháp trước mắt nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh". Triển khai thực hiện nghị quyết của Ban Cán sự Đảng, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh ra Quyết định số 80/QĐ-HVCTQG ngày 19/2/2004 và quyết định số 685/QĐ-HVCTQG ngày 10-4-2006, cụ thể hoá các mục tiêu, bước đi và biện pháp thực hiện nội dung Nghị quyết Ban Cán sự Đảng trong toàn hệ thống Học viện, đặc biệt coi trọng hai nhiệm vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học. Nghị quyết của Ban Cán sự Đảng và các quyết định nói trên của Giám đốc Học viện đã tạo ra một bước chuyển biến mới ở Học viện.

Trước yêu cầu mới là đẩy mạnh công cuộc đổi mới và thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; sớm đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Ngày 30-7-2005 Bộ Chính trị khóa IX ban hành Nghị quyết số 52/NQ-TW về :"Đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và nghiên cứu khoa học của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh". Nghị quyết chỉ rõ mục tiêu, quan điểm và nội dung đổi mới công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học của Học viện hiện nay. Ngày 02-8-2005, Bộ Chính trị ra Quyết định số 149/QĐ-TW về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Theo Quyết định này, cơ cấu, tổ chức của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh gồm: Học viện Chính trị khu vực I, Học viện Chính trị khu vực II, Học viện Chính trị khu vực III, Học viện Chính trị khu vực IV, Học viện Báo chí - Tuyên truyền và các viện, vụ, ban, văn phòng, tạp chí, nhà xuất bản.

Ngày 17-5-2006, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 48/2006/NĐ-CP về Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Điều 1 Nghị định ghi rõ: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh là đơn vị sự nghiệp thuộc Chính phủ, là đơn vị tài chính cấp I.

Các nghị quyết, quyết định và nghị định trên đây tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò, chức năng và nhiệm vụ quan trọng của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trong giai đoạn cách mạng mới - giai đoạn đổi mới toàn diện và đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Triển khai thực hiện nghị quyết, quyết định của Bộ Chính trị; nghị định của Chính phủ, Học viện đã xây dựng một số đề án đổi mới mạnh mẽ, toàn diện công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ và tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật để ngang tầm với đòi hỏi của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nội dung chủ yếu các đề án như sau :

- Vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quán triệt sâu sắc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam và xu thế phát triển của thế giới hiện đại vào nội dung giảng dạy và nghiên cứu khoa học của Học viện trong giai đoạn mới;

- Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phải bám sát mục tiêu, yêu cầu định hướng của chiến lược cán bộ, gắn kết chặt chẽ với công tác quy hoạch cán bộ. Coi trọng chất lượng đào tạo. Phân định rõ giữa đào tạo cơ bản với bồi dưỡng theo chức danh. Rút ngắn hợp lý thời gian đào tạo. Chú trọng đào tạo tập trung;

- Đổi mới, hoàn thiện chương trình các hệ đào tạo, bồi dưỡng theo hướng chọn lọc, thiết thực, sát hợp với đối tượng và mục tiêu đào tạo, Học viện đã và đang biên soạn lại các loại chương trình sau: chương trình đào tạo cao cấp lý luận chính trị; chương trình bồi dưỡng, chương trình nâng cao, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ lãnh đạo, quản lý; chương trình đào tạo lý luận chính trị cho cán bộ để chuẩn hoá chức danh công chức; chương trình đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ các chuyên ngành lý luận chính trị và một số chuyên ngành khoa học- xã hội và nhân văn khác; chương trình đào tạo bậc đại học và sau đại học các cán bộ trên lĩnh vực báo chí, xuất bản, tuyên truyền và giảng viên lý luận chính trị. Việc đổi mới chương trình, nội dung phương pháp đào tạo quán triệt yêu cầu vừa bảo đảm tính khoa học, cơ bản và hệ thống, vừa bảo đảm tính hiện đại, thực tiễn và chuyên môn nghiệp vụ;

- Thực hiện đào tạo toàn diện, chú trọng nâng cao trình độ kiến thức, rèn luyện năng lực tư duy khoa học, khả năng xử lý tình huống, trau dồi đạo đức, lối sống; gắn bồi dưỡng lý luận với thực tiễn, học đi đôi với hành. Áp dụng phương pháp giảng dạy hiện đại và học tập theo phong cách nghiên cứu nhằm phát huy cao độ tính chủ động, tích cực, khả năng độc lập suy nghĩ của người học;

- Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học nhằm đóng góp kịp thời và thiết thực vào việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; tham gia tích cực vào công tác tư tưởng của Đảng và nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Gắn tổng kết thực tiễn với phát triển lý luận;

- Phấn đấu nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học trên các hướng: nghiên cứu phục vụ nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nghiên cứu đóng góp vào sự phát triển lý luận, cung cấp luận cứ khoa học cho việc xây dựng, hoàn thiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; tổ chức thảo luận, làm sáng tỏ những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn đang có ý kiến khác nhau, đấu tranh chống các quan điểm lệch lạc và luận điệu sai trái, góp phần tích cực vào công tác tư tưởng của Đảng;

- Chú trọng cả nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng, nghiên cứu lý luận gắn với thực tiễn, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. Tăng cường nghiên cứu liên ngành, phối hợp giữa Học viện với các bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương, các cơ quan khoa học khác và cấp uỷ, chính quyền địa phương trong nghiên cứu khoa học. Tổ chức để học viên cùng tham gia các hoạt động khoa học;

- Tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản, nhằm làm sáng tỏ những giá trị, sức sống và ý nghĩa của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; về xây dựng Đảng vững mạnh toàn diện, trọng tâm là vấn đề Đảng cầm quyền; xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; về vấn đề toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế... Tạo ra những công trình, sản phẩm khoa học lớn, có uy tín xã hội cao;

- Đổi mới mạnh mẽ công tác quản lý khoa học; tăng cường công tác thông tin khoa học; mở rộng hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học;

- Coi trọng việc xây dựng và thực hiện quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ cán bộ giảng dạy, nghiên cứu, đặc biệt là cán bộ khoa học đầu ngành; có biện pháp mạnh mẽ và cấp thiết để sau một số năm đáp ứng đủ số lượng, đảm bảo chất lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy và nghiên cứu cho Học viện;

- Mời các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, cán bộ lãnh đạo ở các cơ quan Trung ương và địa phương có đủ điều kiện làm giảng viên kiêm nhiệm của Học viện.

- Thực hiện trao đổi giảng viên với một số cơ sở đào tạo có uy tín trong khu vực và trên thế giới;

- Xây dựng quy hoạch, kế hoạch từng bước hiện đại hoá cơ sở vật chất - kỹ thuật của Học viện để tương xứng một trung tâm đào tạo và nghiên cứu lớn của quốc gia và khu vực.

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X, ngày 07-5-2007, Bộ Chính trị đã ban hành Quyết định số 60-QĐ/TW về việc hợp nhất Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Học viện Hành chính thành Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.

Ngày 06-01-2014, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Quyết định số 224-QĐ/TW về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Theo Quyết định này, Học viện Hành chính trực thuộc Bộ Nội vụ, đồng thời Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh đổi tên thành Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Đáp ứng yêu cầu cán bộ cho sự nghiệp đổi mới, từ năm 1993 đến nay Học viện đã mở rộng quy mô đào tạo, trung bình hàng năm có từ 14 đến 15 nghìn học viên theo học ở các hệ đào tạo và bồi dưỡng (tập trung và tại chức). Ngoài việc tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý chủ chốt cho hệ thống chính trị, công tác đào tạo cán bộ lý luận có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ cũng được mở rộng quy mô. Hằng năm có từ 200-350 học viên học cao học và nghiên cứu sinh. Công tác nghiên cứu khoa học được tăng cường cả chiều rộng lẫn chiều sâu, Học viện đã thành lập Hội đồng khoa học, xây dựng và ban hành Chiến lược nghiên cứu khoa học 10 năm 2005-2015 để chỉ đạo và triển khai công tác nghiên cứu khoa học theo yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới. Hàng trăm đề tài khoa học cấp Nhà nước, cấp bộ và cơ sở về đổi mới tư duy lý luận, tư duy kinh tế, đổi mới phương pháp lãnh đạo của Đảng; về chủ nghĩa xã hội và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, về công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, về toàn cầu hoá và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; về xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, v.v... đã được Học viện tổ chức nghiên cứu rộng rãi, thu hút nhiều nhà khoa học trong và ngoài Học viện tham gia. Kết quả nghiên cứu đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ trong giai đoạn mới và cung cấp căn cứ khoa học cho Đảng, Nhà nước hoạch định đường lối, chính sách trong thời kỳ đổi mới đất nước. Kết quả đào tạo, nghiên cứu khoa học của Học viện đã có những đóng góp tích cực vào thành công của sự nghiệp đổi mới đất nước.


Gửi cho bạn bè

ALBUM ẢNH

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang truy cập: 378 Hôm nay: 8331 Tháng hiện tại: 165693 Tổng lượt truy cập: 7249865

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về Phòng Thông tin điện tử
Số 135 Nguyễn Phong Sắc, Cầu Giấy, Hà Nội
Email: ttdt@npa.org.vn;
Trân trọng cảm ơn!
LÊN ĐẦU TRANG