Giới thiệu sách “Quá trình tự đào tạo của cán bộ khoa học trẻ - Từ yêu cầu đến giải pháp”

Nhân dịp kỷ niệm 85 năm ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Đoàn Thanh niên Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh phối hợp Nhà Xuất bản Lý luận chính trị tổ chức xuất bản và phát hành cuốn sách “Quá trình tự đào tạo của cán bộ khoa học trẻ - Từ yêu cầu đến giải pháp”. Dưới hình thức chia sẻ kinh nghiệm tự học, tự đào tạo, Cuốn sách gồm các bài viết, bài nghiên cứu của nhiều thế hệ các nhà khoa học tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; đặc biệt là những bài viết, chia sẻ, trao đổi kỹ năng, kinh nghiệm được đúc kết qua thời gian của thế hệ các nhà khoa học đi trước ghi chép lại cho thế hệ các nhà khoa học trẻ ngày hôm nay tham khảo, học tập.

Cuốn sách được trình bày thành 3 phần:

Trong phần thứ nhất, cuốn sách bàn về vấn đề đào tạo và tự đào tạo của đội ngũ cán bộ khoa học trẻ trong giai đoạn hiện nay. Bài viết của ThS Trần Thị Hợi (Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng) đã nêu những quan điểm cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác đào tạo và tấm gương tự đào tạo của Người cho thấy vấn đề cốt yếu trong tư tưởng về giáo dục, đào tạo trước hết phải là vấn đề con người, đào tạo con người để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, đào tạo nên những người công dân có ích cho đất nước... ; Bài viết khẳng định “... quan điểm của Hồ Chí Minh về đào tạo có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, đặc biệt là đối với đội ngũ nhà giáo, những người đóng vai trò then chốt đối với công cuộc đổi mới giáo dục của chúng ta hiện nay. Học tập tấm gương tự học và học tập suốt đời của Bác, cán bộ, học viên của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh phải xây dựng cho mình một tinh thần, thái độ tự học đúng đắn và xác định đó là nhu cầu thường nhật, liên tục, thường xuyên; tự trau dồi kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ để đảm nhận được sứ mệnh vẻ vang mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Trường Đảng là một trường học để đào tạo những chiến sĩ tiên tiến phấn đấu cho sự nghiệp của giai cấp vô sản”.

Nghiên cứu của Lê Quỳnh Trang (Lớp cán bộ khoa học trẻ, khóa 2013-2015) giới thiệu hai hình thức của hoạt động giáo dục - đào tạo và phân tích, đánh giá về hình thức đào tạo truyền thống; phân tích về vấn đề tự đào tạo và giới thiệu mô hình Pintrich cho quá trình tự đào tạo và nêu một số kiến nghị về giải pháp cho quá trình tự đào tạo của cán bộ trẻ Học viện, như: 1) Người học cần đặt ra mục tiêu học tập; 2) Người học cần có cam kết cụ thể đối với từng nhiệm vụ thiết thực và hữu ích trong quá trình tự đào tạo, cần được khuyến khích làm việc một cách độc lập; 3) Cần ghi nhận những đánh giá chính xác về kết quả tự đào tạo. Có thể ghi chép lại toàn bộ tiến trình nghiên cứu và đào tạo của mình như một dạng nhật ký học tập, bao gồm các nội dung về bài tập mà mình đã hoàn thành, các kết quả nghiên cứu…; 4) Phải không ngừng rèn luyện để có những phẩm chất cần có của một người tự học tập và đào tạo. Những đặc điểm tính cách này phụ thuộc một phần nhỏ vào tố chất bẩm sinh, còn phần lớn được hình thành và hoàn thiện sau một quá trình rèn luyện lâu dài; 5) Nâng cao vai trò của các tổ chức đào tạo. Để quá trình tự đào tạo đạt được hiệu quả tối đa, vai trò định hướng, dẫn dắt và đánh giá nhận xét của các tổ chức đào tạo, đặc biệt là các giảng viên là hết sức quan trọng. Ngoài ra, tổ chức đào tạo có thể phát triển các hình thức tự đào tạo và đào tạo từ xa thông qua internet”.

Với những chia sẻ từ kinh nghiệm bản thân trong quá trình tự học, tự đào tạo, TS Bùi Phương Đình (Viện Lãnh đạo học và Chính sách công) nhấn mạnh cần: “1) Duy trì sự tò mò và khả năng ngạc nhiên trước điều mới. Theo anh, không có sự vật, sự việc nào trong cuộc sống lặp lại một cách nguyên xi mà lại không chứa đựng yếu tố mới trong sự vận động của nó. Ví dụ, hình ảnh đồi cát vàng Mũi Né, Bình Thuận, dưới tác động của gió nên đường nét, hình hài của các đụn cát không bao giờ lặp lại. Cảnh tượng đó có thể khiến chúng ta đến một lần và quay lại nhiều lần chỉ để biết lần sau khác lần trước như thế nào. 2) Chăm chú lắng nghe và cố gắng đặt bản thân vào vị trí người khác. Trên cơ sở đó, ta có thể kịp thời điều chỉnh tiến trình và nội dung bài giảng sao cho sát với nhu cầu và sự trải nghiệm của học viên. 3) Tự rèn luyện tư duy Tự do học thuật ngay trong bản thân mình.Đối với cá nhân người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy, tự do học thuật thể hiện trước hết ở chỗ họ không thể cho phép bản thân được “độc quyền chân lý”. Thứ hai, người làm nghiên cứu sẽ không dừng sự tìm kiếm liên tục những điều mới khác biệt với nhận thức khoa học và cả trải nghiệm lâu năm vốn đã định hình của mình. Thứ ba, luôn dành chỗ trong trí óc cho những ý kiến khác biệt và phản biện có thể xuất phát từ đồng nghiệp, từ người đi học hoặc chỉ từ một tình huống trong cuộc sống”.

Trong nội dung của phần thứ nhất còn có những bài nghiên cứu, trao đổi về “Quá trình đào tạo và tự đào tạo - Cơ sở lý luận và một số hình thức phổ biến” của Lê Thị Trang (Lớp cán bộ khoa học trẻ, khóa 2013-2015); “Những phẩm chất cấu thành năng lực tự đào tạo của cán bộ khoa học trẻ trong thời đại ngày nay” của ThS Nguyễn Lương Ngọc (Vụ Tổ chức - Cán bộ) và ThS Chu Thị Lê Anh (Lớp cán bộ khoa học trẻ, khóa 2013-2015); “Kinh nghiệm trong nước và quốc tế về thực hiện quá trình tự đào tạo nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ khoa học trẻ” của PGS, TS Tường Duy Kiên;...

Phần thứ hai cuốn sách bàn về các vấn đề đặt ra trong quá trình tự đào tạo của cán bộ khoa học trẻ tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Bài viết của PGS,TS Lê Văn Lợi (Vụ Quản lý khoa học) đã khẳng định: “...việc sử dụng cán bộ khoa học trẻ có ý nghĩa rất quan trọng đối với quá trình phát triển của đội ngũ này.. Cần xác định tham gia công tác nghiên cứu, giảng dạy là một khâu trong quá trình đào tạo cán bộ khoa học trẻ. Có như vậy, khi cán bộ trẻ hội đủ điều kiện về bằng cấp thì họ đồng thời cũng thành thạo công tác nghiên cứu, giảng dạy”.

Nghiên cứu của PGS,TS Dương Trung Ý (NXB Lý luận chính trị) về “Vai trò của quá trình tự đào tạo trong việc xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ khoa học trẻ Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh thời kỳ hội nhập quốc tế” đã có những phân tích “Ở châu Á, Malaysia đã có mô hình “Nhà trường thông tuệ” (Smart school). Học sinh trong các trường thông tuệ phải có tinh thần tự học theo phương châm: “Tự tiếp cận vấn đề; tự định hướng vấn đề; tự xác định lộ trình để tiến bước”. Tại các nhà trường thông tuệ, người học phải có phong cách học tập “Power” (sức mạnh), trong đó:P: Planing - Tự vạch ra kế hoạch học theo vấn đề mình tiếpcận được; O: Organising - Tự tổ chức để hiện thực kế hoạch vạch ra; W: Working - Làm việc một cách hợp lý đối với kế hoạch đã có; E: Evaluating - Tự đánh giá kết quả mà bản thân mình đã đạt được; R: Recognising - Tự xây dựng nhận thức những điều mới bản thân thu lượm được. Ở nước ta, ngay trong tác phẩm “Sửa đổi lề lối làm việc” (1947), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có lời dạy: “Lấy tự học làm cốt. Do thảo luận và chỉ đạo giúp vào”. Lời Bác dạy chỉ có 13 từ nhưng hàm chứa một nội dung sâu sắc về tự học và điều kiện cho tự học thành công. “Lấy tự học làm cốt” là Bác muốn khuyên mỗi người phải có động lực cho sự tiến bộ của bản thân qua tự học”.

Phần thứ hai cuốn sách còn có nhiều bài viết, bài nghiên cứu về tự học, tự đào tạo của PGS,TS Ngô Tuấn Nghĩa (Viện Kinh tế chính trị học), PGS,TS Đinh Ngọc Giang (Viện Xây dựng Đảng), ThS Đinh Văn Trung (Ban Tuyên giáo Đảng ủy), TS Nguyễn Văn Lượng (Viện Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý) cùng nhiều cán bộ khoa học trẻ tại Học viện Trung tâm và các Học viện trực thuộc.

Phần thứ ba cuốn sách nêu một số giải pháp nâng cao chất lượng quá trình tự đào tạo của cán bộ khoa học trẻ trước yêu cầu và nhiệm vụ mới. Bài viết của ThS Nguyễn Thái Bình (Viện trưởng Viện Thông tin khoa học, Bí thư Đoàn Thanh niên Học viện) đã nêu 7 phương hướng cho định hướng phát triển đội ngũ cán bộ khoa học trẻ tại Học viện như: Một là, xây dựng lập trường tư tưởng chính trị vững vàng; Hai là, thực hiện đồng bộ các giải pháp để xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ khoa học trẻ từ tạo nguồn, xây dựng quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đến quản lýBa là, phát triển đội ngũ cán bộ khoa học trẻ theo hướng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiên cứu khoa họcđáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tếBốn là, phát triển đội ngũ cán bộ khoa học trẻ một cách đồng bộ và hợp lý về số lượng, chất lượng, cơ cấu, độ tuổi, các lĩnh vực hiện nay cũng như trong tương laiNăm là, xây dựng và rèn luyện đạo đức cách mạng, tác phong công tácSáu là, gắn đào tạo, bồi dưỡng trong nhà trường với quá trình rèn luyện trong thực tế, gắn lý luận và thực tiễnBảy là, xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học kế cận trên các lĩnh vực mà Học viện đang nghiên cứu, giảng dạy, đặc biệt là các ngành đặc thù, đặc trưng riêng của Học viện.

Bên cạnh đó, phần thứ ba cuốn sách có nhiều bài viết, bài nghiên cứu có những gợi ý về việc tham gia đào tạo, bồi dưỡng tại nước ngoài của cán bộ khoa học trẻ của ThS Đào Thị Nguyệt Hằng (Vụ Hợp tác quốc tế); tiếp tục đổi mới phương pháp đánh giá gắn với sử dụng cán bộ khoa học trẻ trưởng thành nhanh trong quá trình đào tạo của PGS,TS Đỗ Xuân Tuất (Vụ Tổ chức - Cán bộ); phát huy tính tích cực, chủ động, tự giáo dục, rèn luyện của cán bộ khoa học trẻ của PGS,TS Đặng Quang Định (Viện Triết học) và phát huy vai trò của các tổ chức đảng, đoàn thể trong việc nâng cao chất lượng tự đào tạo của đội ngũ cán bộ khoa học trẻ tại Học viện của PGS,TS Hoàng Phúc Lâm (Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Chủ tịch Công đoàn Học viện);...

VĂN PHÒNG ĐOÀN THANH NIÊN HỌC VIỆN

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

ALBUM ẢNH

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang truy cập: 81 Hôm nay: 520 Tháng hiện tại: 165480 Tổng lượt truy cập: 7461327

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về Phòng Thông tin điện tử
Số 135 Nguyễn Phong Sắc, Cầu Giấy, Hà Nội
Email: ttdt@npa.org.vn;
Trân trọng cảm ơn!
LÊN ĐẦU TRANG