Hội thảo khoa học cấp cơ sở “Ngoại giao Việt Nam (1945 – 1946): Lịch sử và bài học”

14:15 14/09/2026

Sáng ngày 14/9/2026, Viện Lịch sử Đảng (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) tổ chức Hội thảo khoa học cấp cơ sở “Ngoại giao Việt Nam (1945 – 1946): Lịch sử và bài học”. PGS,TS Trần Trọng Thơ và TS Lương Viết Sang đồng chủ trì Hội thảo. Tham dự Hội thảo có cán bộ, giảng viên và nghiên cứu viên của Viện Lịch sử Đảng.

Hội thảo tập trung luận giải bối cảnh, thách thức và nghệ thuật đấu tranh ngoại giao của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong hai năm đầu sau Cách mạng Tháng Tám, qua đó nhận diện những giá trị lịch sử, lý luận và rút ra các bài học tham chiếu đối với đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới.

Quang cảnh Hội thảo

Trình bày Báo cáo đề dẫn, PGS,TS Trần Trọng Thơ nêu rõ: trong tiến trình lịch sử dân tộc Việt Nam hiện đại, giai đoạn 1945 – 1946 có vị trí đặc biệt quan trọng. Đây là thời kỳ đất nước vừa giành được độc lập sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, song nền độc lập và chính quyền cách mạng lập tức đứng trước những thử thách hết sức nghiêm trọng. Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa phải khẩn trương xây dựng một nhà nước mới, củng cố nền độc lập, ổn định đời sống nhân dân, vừa phải ứng phó với tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, trong đó hoạt động đối ngoại giữ vai trò đặc biệt quan trọng.

Theo PGS,TS Trần Trọng Thơ: những quyết sách đối ngoại giai đoạn 1945 – 1946 cần được nhìn nhận trong điều kiện lịch sử cụ thể, với những giới hạn và lựa chọn mà một quốc gia mới giành độc lập phải đối mặt. Trong bối cảnh Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chưa được quốc tế công nhận rộng rãi, đồng thời phải đương đầu với nạn đói, nạn dốt, ngân khố cạn kiệt và sức ép từ các lực lượng chính trị đối lập được bên ngoài hậu thuẫn, yêu cầu cấp bách đặt ra đối với hoạt động đối ngoại là: bảo vệ thành quả Cách mạng Tháng Tám, giữ vững chính quyền, tránh cùng lúc phải đối đầu với nhiều kẻ thù, tranh thủ thời gian hòa bình để xây dựng lực lượng và từng bước đưa Việt Nam thoát khỏi thế bị cô lập.

Từ đó, PGS,TS Trần Trọng Thơ đề dẫn đề nghị các nhà khoa học tập trung làm rõ bốn nhóm vấn đề. Một là, bối cảnh quốc tế và khu vực tác động đến quyết sách đối ngoại của Việt Nam những năm 1945 – 1946, đặc biệt là sự vận động trong quan hệ giữa các nước lớn và tác động của trật tự thế giới sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Hai là, quá trình hình thành và phát triển tư duy đối ngoại của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, từ Tuyên ngôn Độc lập ngày 02/9/1945 đến các cuộc đàm phán, thỏa thuận với Pháp, Trung Hoa Dân quốc và các lực lượng quốc tế khác. Ba là, vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các nhà hoạt động ngoại giao tiêu biểu, cùng đóng góp của các cơ quan, tổ chức đối với việc hình thành nền ngoại giao của nước Việt Nam mới. Bốn là, việc chuyển hóa bài học lịch sử thành giá trị tham khảo cho công tác đối ngoại hiện nay – không phải sao chép nguyên trạng phương thức của quá khứ, mà nhận diện những nguyên lý có tính bền vững để vận dụng sáng tạo trong điều kiện mới.

Bối cảnh và đường lối, sách lược đối ngoại của Việt Nam

Tham luận của TS Trần Tuấn Sơn phân tích một cách hệ thống những thách thức đối ngoại trong năm 1945, chỉ rõ tình thế “thù trong, giặc ngoài”. Tác giả đặt vấn đề trong bối cảnh trật tự quốc tế sau Chiến tranh thế giới thứ hai do các cường quốc định hình, khiến cách mạng Việt Nam rơi vào thế bị bao vây, cô lập về ngoại giao. Theo tác giả, thách thức đối ngoại năm 1945 mang tính đa tầng, đa chủ thể: về không gian, chính quyền cách mạng bị bao vây từ cả hai đầu đất nước; về tính chất, các thế lực hiện diện trên lãnh thổ Việt Nam có mục tiêu và mức độ đe dọa khác nhau; về thời gian, các thách thức xuất hiện gần như đồng thời, không cho phép chính quyền cách mạng có đủ điều kiện đối phó tuần tự.

Tham luận của TS Nguyễn Bình luận giải vai trò của ngoại giao trong việc kéo dài thời gian hòa bình để chuẩn bị lực lượng cho kháng chiến. Tác giả cho rằng, đứng trước những thử thách đối ngoại mang tính sinh tử, Đảng Cộng sản Đông Dương và Chính phủ đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ – tinh thần này được thể hiện tập trung trong Chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc” ngày 25/11/1945. Điểm cốt lõi là nguyên tắc bất biến về độc lập, chủ quyền và thống nhất quốc gia được giữ vững xuyên suốt; mọi nhân nhượng đều có giới hạn và nhằm đổi lấy thời gian. Khoảng thời gian hòa bình quý báu đó đã được sử dụng để củng cố chính quyền, tổ chức Tổng tuyển cử ngày 06/01/1946 bầu Quốc hội khóa I, thông qua Hiến pháp năm 1946 và phát triển lực lượng vũ trang.

Đi sâu vào thực tiễn đấu tranh ngoại giao, Hội thảo nghe tham luận của TS Dương Thị Huệ về vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong đàm phán Việt – Pháp và việc ký Tạm ước ngày 14/9/1946, cùng tham luận của TS Đoàn Thị Hương về hoạt động vận động dư luận và tranh thủ sự ủng hộ quốc tế của Việt Nam giai đoạn 1945 – 1946.

Đại biểu tham luận tại Hội thảo

Bài học lịch sử và giá trị đối với đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới

Từ góc độ phương pháp, tham luận của PGS,TS Trần Trọng Thơ đã khái quát những bài học về nghệ thuật đàm phán: chuẩn bị kỹ phương án và đánh giá đúng đối tượng cùng ý đồ chiến lược của đối phương; kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh trên bàn đàm phán với củng cố thực lực trên thực địa; xác định đúng thời điểm và giới hạn nhân nhượng; giữ vững thế chủ động, kiên trì phương châm giành thắng lợi từng bước.

Tiếp cận chiều cạnh phương pháp luận, tham luận của PGS, TS Trần Thị Vui luận giải phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Tác giả xác định nội hàm của cái “bất biến” là độc lập dân tộc, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, suy cho cùng là lợi ích quốc gia – dân tộc; “vạn biến” là sự linh hoạt về hình thức, bước đi và đối sách. Tham luận phân tích mối quan hệ biện chứng giữa mục tiêu chiến lược và sách lược cụ thể, đồng thời lưu ý rằng tuyệt đối hóa một trong hai vế đều dẫn tới sai lầm trong tư duy và hành động đối ngoại.

Khép lại nhóm vấn đề này, tham luận của TS Đặng Kim Oanh luận giải giá trị của ngoại giao 1945 – 1946 đối với đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới, chỉ ra sự kế thừa và phát triển những nguyên tắc từ giai đoạn này trong tư duy đối ngoại hiện nay: đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ; kiên định độc lập, tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế; xử lý hài hòa quan hệ với các nước lớn; phát huy sức mạnh tổng hợp của ba trụ cột đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân. Theo tác giả, những giá trị đó nằm trong mạch phát triển của trường phái đối ngoại, ngoại giao mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam” – “gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển”.

Phát biểu tổng kết, TS Lương Viết Sang đánh giá cao chất lượng khoa học và tinh thần trao đổi thẳng thắn của Hội thảo. Các tham luận đã bao quát tương đối toàn diện những vấn đề đặt ra, kết hợp phục dựng tiến trình lịch sử với khái quát lý luận, nghiên cứu trường hợp Việt Nam với đối chiếu kinh nghiệm khu vực. Hội thảo thống nhất khẳng định: ngoại giao Việt Nam giai đoạn 1945 – 1946 là mẫu mực về nghệ thuật bảo vệ nền độc lập bằng phương thức hòa bình trong tương quan lực lượng bất lợi, để lại hệ thống bài học còn nguyên giá trị.

Theo TS Lương Viết Sang, trong bối cảnh tình hình thế giới diễn biến phức tạp, khó lường; các nước lớn có sự điều chỉnh chiến lược, vừa hợp tác, thỏa hiệp, vừa cạnh tranh, đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau, việc nghiên cứu, vận dụng phương pháp ngoại giao “dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh và những bài học kinh nghiệm của ngoại giao Việt Nam 1945-1946, nhằm nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng có ý nghĩa hết sức quan trọng.

BBT