Hội thảo khoa học “Những thay đổi mang tính thời đại của thế giới trong thế kỷ XXI: Nhận diện, dự báo và giải pháp chính sách cho Việt Nam”

17:04 09/10/2026

Ngày 9/10/2026, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức Hội thảo khoa học “Những thay đổi mang tính thời đại của thế giới trong thế kỷ XXI: Nhận diện, dự báo và giải pháp chính sách cho Việt Nam”. GS,TS Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị khóa XIII, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương dự và chủ trì Hội thảo.

Cùng dự và đồng chủ trì Hội thảo có PGS,TS Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Giám đốc Học viện, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương; PGS,TS Hoàng Anh, Vụ trưởng Vụ Quản lý khoa học. Tham dự Hội thảo có các chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài Học viện. 

GS,TS Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị khóa XIII, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương phát biểu đề dẫn Hội thảo

Nhận diện đúng “tính thời đại” của những biến đổi

Phát biểu đề dẫn Hội thảo, GS,TS Nguyễn Xuân Thắng nhận định, thế giới đang chứng kiến những biến đổi hết sức sâu sắc, nhanh chóng, phức tạp và khó dự báo, mang đến những thay đổi căn bản về chất, có tính cấu trúc, làm chuyển dịch những nền tảng cơ bản của sự phát triển và định hình diện mạo mới của thế giới. Cuộc cách mạng khoa học, công nghệ, nhất là trí tuệ nhân tạo (AI) và sự hội tụ công nghệ giữa dữ liệu lớn, bán dẫn, lượng tử, sinh học đang thúc đẩy sự hình thành lực lượng sản xuất mới. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng quyết liệt; phân mảnh địa kinh tế đan xen với tái cấu trúc toàn cầu hóa và các chuỗi sản xuất, cung ứng, giá trị; chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và chuyển đổi năng lượng diễn ra đồng thời; an ninh truyền thống và phi truyền thống đan xen, không gian an ninh quốc gia mở rộng.

Các quá trình ấy tác động, cộng hưởng và chuyển hóa lẫn nhau, tạo nên những bước ngoặt vượt khỏi từng lĩnh vực. Vì vậy, theo đồng chí, Hội thảo cần trả lời ba câu hỏi cốt lõi: Đâu là những thay đổi thực sự mang tính thời đại? Những thay đổi ấy đang làm biến đổi thế giới theo hướng nào? Việt Nam phải làm gì để chủ động thích ứng, vượt qua thách thức, kiến tạo động lực phát triển mới và bứt phá vươn lên?

Đồng chí lưu ý, không phải mọi biến động lớn, xu hướng mới hay sự kiện có ảnh hưởng quốc tế đều là thay đổi mang tính thời đại. Đó phải là những biến đổi căn bản về chất, tác động tới các cấu trúc nền tảng, lan tỏa rộng và lâu dài, tạo ra những điều kiện và phương thức phát triển mới. Để nhận diện, cần xem xét đồng thời năm tiêu chí: (i) chiều sâu biến đổi nền tảng và cấu trúc; (ii) phạm vi ảnh hưởng về không gian và sức lan tỏa liên lĩnh vực; (iii) tác động dài hạn, vượt khỏi biến động tình thế; (iv) tính không đảo ngược; (v) khả năng mở ra quỹ đạo phát triển mới. Trong đó, “không đảo ngược” được hiểu là những nền tảng và quan hệ mới đã định hình, trở thành điều kiện chi phối sự phát triển, khiến thế giới không thể trở lại nguyên trạng, dù quá trình chuyển đổi vẫn có thể chững lại hoặc có bước lùi cục bộ.

Soi chiếu vào lịch sử, bước chuyển từ sản xuất thủ công sang cơ khí và nền đại công nghiệp, điện khí hóa và sản xuất hàng loạt, sự ra đời của máy tính, Internet, cùng với sự tan rã của hệ thống thuộc địa đều mang ý nghĩa thời đại bởi chiều sâu cấu trúc, sức lan tỏa và khả năng xác lập những nền tảng phát triển không thể đơn giản đảo ngược. Song lịch sử cũng cho thấy, “năng lực kỹ thuật mới không tự động đem lại tiến bộ xã hội; thành quả phụ thuộc vào thể chế, tổ chức sản xuất và phân phối lợi ích”. Những quốc gia nhận biết sớm, chuẩn bị tốt có thể vươn lên; chậm trễ có thể kéo dài khoảng cách phát triển. Do đó, về phương pháp, cần phân biệt rõ những bước chuyển đã định hình, những bước chuyển đang hình thành và những khả năng tiềm tàng; không đồng nhất xu hướng với kết quả tất yếu.

Quang cảnh Hội thảo

Biến sức ép của thời đại thành động lực bứt phá cho Việt Nam

Đánh giá bối cảnh trong nước, GS,TS Nguyễn Xuân Thắng khẳng định, sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước được nâng cao; chính trị, xã hội ổn định, hội nhập sâu rộng. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt về năng suất, năng lực công nghệ, chất lượng nhân lực, sức cạnh tranh của doanh nghiệp và hiệu quả thực thi thể chế.

Từ cách tiếp cận trên, GS,TS Nguyễn Xuân Thắng đề nghị Hội thảo làm rõ năm định hướng chính sách lớn: (i) đổi mới tư duy phát triển, nâng cao năng lực dự báo và quản trị chiến lược theo nhiều kịch bản, gắn cảnh báo sớm với phương án hành động và cơ chế điều chỉnh chính sách; (ii) phát huy thể chế như một nguồn lực đặc biệt, khuyến khích thử nghiệm có kiểm soát, khơi thông và phân bổ hiệu quả nguồn lực, nâng chất lượng thực thi và trách nhiệm giải trình; (iii) phát triển nhân lực chất lượng cao, doanh nghiệp Việt Nam và năng lực hấp thụ, làm chủ công nghệ, gắn chuyển đổi số, xanh, năng lượng với hạ tầng đồng bộ và sử dụng hiệu quả tài nguyên; (iv) xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập sâu rộng, đa dạng hóa đối tác, thị trường và chuỗi cung ứng, giảm phụ thuộc chiến lược, chủ động tham gia định hình luật lệ, giữ vững hòa bình, bảo đảm quốc phòng, an ninh; (v) hướng mọi chuyển đổi tới chất lượng sống của nhân dân, gắn tăng trưởng với tiến bộ, công bằng xã hội, hỗ trợ các nhóm chịu chi phí chuyển đổi lớn để người dân thực sự là chủ thể và người thụ hưởng thành quả phát triển.

“Lịch sử cho thấy, tại những bước ngoặt lớn, các quốc gia biết nhìn thấy sớm, chuẩn bị tốt và hành động hiệu quả có thể tạo ra những bước phát triển vượt bậc. Với Việt Nam, điều quyết định là biến nhận thức về thời đại thành năng lực và hành động phát triển”, GS,TS Nguyễn Xuân Thắng nhấn mạnh, đồng thời bày tỏ tin tưởng Hội thảo sẽ đóng góp những luận cứ khoa học, kiến nghị thiết thực để đất nước chủ động thích ứng, tự chủ và bứt phá, thực hiện thắng lợi hai mục tiêu 100 năm, xây dựng nước Việt Nam phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.

Đại biểu tham dự Hội thảo

Đại biểu tham dự Hội thảo

Tham luận tại Hội thảo, các chuyên gia, nhà khoa học trao đổi thẳng thắn, làm rõ cả những nhận định còn khác nhau, tập trung vào sáu vấn đề: (i) cơ sở xác định tính thời đại – bằng chứng nào phân biệt một xu hướng lớn với biến đổi cấu trúc, có tính không đảo ngược. (ii) xu thế vận động, tác động toàn cầu và các kịch bản đến năm 2030, năm 2045 và xa hơn, cùng những “tín hiệu yếu” cần theo dõi. (ii) cơ hội, thách thức và lựa chọn mô hình phát triển của Việt Nam, nhất là động lực, năng lực và cách phân bổ nguồn lực quyết định khả năng tăng trưởng hai con số bền vững và rút ngắn khoảng cách phát triển. (iv) tự chủ chiến lược và hội nhập quốc tế, nhận diện những phụ thuộc có thể trở thành rủi ro chiến lược, cân đối hiệu quả kinh tế với an ninh. (v) tính đồng bộ, bền vững và công bằng trong chuyển đổi: “Ai chịu chi phí, ai hưởng lợi, ai cần hỗ trợ?”. (vi) đột phá thể chế và tổ chức thực hiện, xác định ưu tiên cần quyết định ngay và vấn đề cần thử nghiệm có kiểm soát; các kiến nghị cần làm rõ nguồn lực, trách nhiệm, kết quả đo lường được và cơ chế điều chỉnh.

Các tham luận cho biết: Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng xác định mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, đồng thời xác lập mô hình tăng trưởng mới lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính. Cụ thể hóa định hướng đó, Nghị quyết số 19-NQ/TW Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam đặt yêu cầu đổi mới đồng bộ kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường và quản trị, tạo nền tảng thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026 – 2030. Cùng với đó, Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị và các nghị quyết, quyết sách chiến lược trên những lĩnh vực then chốt tạo cơ sở khơi thông nguồn lực, hình thành động lực và mở rộng không gian phát triển.

Tuy nhiên, những thay đổi mang tính thời đại tác động trực tiếp đến khả năng hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước, vừa mở ra cơ hội bứt phá, vừa tạo sức ép chuyển đổi trên nhiều phương diện: Công nghệ số, AI và dịch chuyển sản xuất mở khả năng nâng năng suất, phát triển ngành mới, tham gia các phân đoạn giá trị cao, nhưng hạn chế về năng lực hấp thụ có thể kéo dài vị trí gia công, lắp ráp và làm xuất hiện những dạng phụ thuộc công nghệ mới. Chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng mở cơ hội đổi mới sản xuất, thu hút đầu tư, song gia tăng sức ép về vốn, hạ tầng và tiêu chuẩn. Tự động hóa, già hóa dân số và chênh lệch kỹ năng gây sức ép lên lợi thế lao động, an sinh và công bằng xã hội. Tái cấu trúc các mạng lưới kinh tế quốc tế mở cơ hội đa dạng hóa hợp tác, nâng vị thế, nhưng cạnh tranh chiến lược, phân mảnh và phụ thuộc hạ tầng, dữ liệu làm tăng rủi ro đối với tự chủ và an ninh. Do vậy, bài toán xuyên suốt là nâng giá trị Việt Nam tạo ra và giữ lại, chuyển lợi thế hiện có thành năng lực phát triển mới, đồng thời phân bổ hợp lý chi phí và lợi ích của quá trình chuyển đổi.

BBT