Giương cao ngọn cờ tư tưởng Hồ Chí Minh

15:35 19/04/2024

Nhân kỷ niệm lần thứ 125 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, tại Hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề “Tư tưởng Hồ Chí Minh - giá trị nhân văn và phát triển” do Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh phối hợp với Văn phòng Trung ương Đảng, Ban Tuyên giáo Trung ương trọng thể tổ chức vào ngày 08-5-2015, GS Nguyễn Đức Bình, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Chủ tịch Hội đồng lý luận Trung ương đã có bài tham luận. Trang Thông tin điện tử Học viện trân trọng giới thiệu toàn văn bài tham luận.
    
    Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng chỉ rõ: cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta và của cách mạng Việt Nam. Đó là sự khẳng định một chân lý lịch sử, một bước phát triển hết sức quan trọng trong tư duy lý luận của Đảng ta, một quyết định rất đúng đắn và hợp lòng người.

    Những năm qua, việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh được triển khai ngày càng sâu rộng, đạt những kết quả đáng khích lệ, thể hiện ở hàng nghìn bài viết, đầu sách, trong đó có những công trình khá dày dặn và có chất lượng cao. Tuy nhiên, tư tưởng Hồ Chí Minh vô cùng phong phú, sâu sắc, vì vậy thành quả nghiên cứu mới chỉ là bước đầu. Mong rằng bài nghiên cứu này góp phần làm sâu  thêm những nhận thức của chúng ta về tư tưởng Hồ Chí Minh - tài sản tinh thần vô giá của Đảng ta, nhân dân ta và của dân tộc ta.

     1. Tư tưởng Hồ Chí Minh hình thành từ những điều kiện lịch sử nhất định. Từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản phương Tây chuyển thành chủ nghĩa đế quốc, thực hiện việc phân chia thế giới và hình thành hệ thống thuộc địa của chúng. Bước sang thế kỷ XX, thế giới bị phân chia bởi một nhóm mấy cường quốc làm giàu bằng cách cướp bóc đại quy mô và áp bức các thuộc địa. Mâu thuẫn giữa các dân tộc bị áp bức với chủ nghĩa đế quốc thực dân trở thành một trong những mâu thuẫn cơ bản của thời đại đế quốc chủ nghĩa. Phong trào giải phóng dân tộc trở thành lực lượng cách mạng quan trọng của thời đại, đồng minh tự nhiên của phong trào cách mạng vô sản. Khẩu hiệu do C. Mác và Ph. Ăngghen nêu lên: “Vô sản tất cả các nước, đoàn kết lại!” được V.I. Lênin bổ sung và phát triển thành: “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại!”.

    Bị áp bức bóc lột nặng nề, các dân tộc thuộc địa, nửa thuộc địa không ngừng vùng dậy đấu tranh chống đế quốc để giành độc lập, tự do. Song, cho đến Chiến tranh thế giới thứ nhất, phong trào giải phóng dân tộc chưa đủ sức làm lung lay nền móng hệ thống thuộc địa, một mặt, do chủ nghĩa đế quốc còn tương đối mạnh; mặt khác, do phong trào giải phóng dân tộc chưa kết hợp được với phong trào cách mạng vô sản ở các nước tư bản chủ nghĩa.

    Chiến tranh đế quốc làm cho các thuộc địa lâm vào tình cảnh vô cùng điêu đứng. Trong lúc các dân tộc bị áp bức đang sống cuộc đời tối tăm thì “tiếng sấm Cách mạng Tháng Mười Nga đã vang dội làm chấn động toàn thể địa cầu”1. Được Cách mạng Tháng Mười nêu gương, cổ vũ, phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ khắp nơi, đặc biệt là ở châu Á.

    Việt Nam là một dân tộc có mấy nghìn năm văn hiến. Nhân dân Việt Nam giàu truyền thống yêu nước, bất khuất. Song, chế độ phong kiến suy tàn, khủng hoảng, phản động đã làm suy kiệt tiềm lực quốc gia. Lợi dụng tình hình ấy, thực dân Pháp xâm lược nước ta, biến nước ta từ một nước phong kiến thành một nước thuộc địa nửa phong kiến. Chúng thi hành các chính sách áp bức bóc lột cực kỳ dã man, thâm độc. Không cam chịu khuất phục, nhân dân ta liên tiếp nổi dậy chống ách thống trị của bọn thực dân và bọn phong kiến tay sai. Nhưng mọi phong trào yêu nước - từ phong trào Cần Vương đến các phong trào yêu nước có xu hướng tiểu tư sản, tư sản - đều hoàn toàn bế tắc, “tình hình đen tối như không có đường ra”[1]. Lịch sử đòi hỏi bức thiết phải có một hệ tư tưởng mới, một con đường mới cứu nước đủ sức dẫn dắt cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc đi đến thắng lợi cuối cùng.

    Bằng thiên tài trí tuệ, lòng yêu nước, thương dân mãnh liệt, ý chí gang thép, đạo đức vô song, Hồ Chí Minh đã đáp ứng yêu cầu lịch sử. Sau mười năm bôn ba tìm đường, Hồ Chí Minh đã từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, tìm thấy con đường cứu nước, giải phóng dân tộc duy nhất đúng đắn. Cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành ngọn đèn pha soi sáng con đường cách mạng Việt Nam. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, của hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đưa Việt Nam từ một dân tộc thuộc địa lên hàng các dân tộc cách mạng tiên phong trên thế giới, đã chứng minh tính khoa học, tính sáng tạo vĩ đại của tư tưởng Hồ Chí Minh.

    Giá trị lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh không giới hạn trong đấu tranh giải phóng dân tộc mà còn soi sáng con đường phát triển đất nước ta, trong hiện tại và cả tương lai. Những năm qua, trước bao diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và nhiều khó khăn trong nước, nhờ kiên định và vận dụng đúng đắn chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, vượt qua khủng hoảng, tiếp tục vững bước tiến lên theo con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn.

      2. Nhiều nhà khoa học đã phân tích kỹ, đưa ra những luận giải xác đáng để chứng minh ba nguồn gốc của tư tưởng Hồ Chí Minh: một là, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam; hai là, tinh hoa văn hóa phương Đông và phương Tây; ba là, chủ nghĩa Mác - Lênin và đây là nhân tố quyết định nhất.

    Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II (tháng 2-1951) của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”1.

    Các dân tộc đều có lòng yêu nước. Song, truyền thống yêu nước Việt Nam có những nét đặc sắc: Một là, tinh thần độc lập tự chủ, anh dũng bất khuất trong đấu tranh dựng nước và giữ nước. Hiếm thấy một dân tộc nào trên thế giới ở vào hoàn cảnh lịch sử phải đấu tranh trường kỳ như thế, gay go, quyết liệt như thế để chống ngoại xâm, để bảo vệ độc lập, tự do, bản sắc và phẩm giá dân tộc như dân tộc Việt Nam. Hai là, giàu tính cộng đồng, tính nhân dân, tính nhân bản. Trong tư tưởng, tình cảm yêu nước Việt Nam ngay thời phong kiến, nước chủ yếu không phải là Vua mà trước hết là dân, là đồng bào, là phẩm giá dân tộc và phẩm giá con người. Ba là, do hai đặc tính trên, tư tưởng yêu nước truyền thống Việt Nam có xu hướng gắn với tiến bộ xã hội. Tư tưởng yêu nước Việt Nam chứa đựng khát vọng về tự do, công bằng, bình đẳng xã hội của nhân dân. Các vị anh hùng dân tộc đều có đường lối ít nhiều đáp ứng khát vọng ấy. Nhân dân Việt Nam yêu đất nước mình nhưng không ích kỷ, hẹp hòi dân tộc mà tôn trọng các dân tộc khác, khoan dung và quý trọng tình hoà hiếu.

    Từ tuổi thanh niên, Hồ Chí Minh đã là một trong những người con yêu nước ưu tú nhất, tiêu biểu nhất của dân tộc. Tất cả ý nghĩa cuộc sống đối với Người lúc đó là cứu nước, giải phóng dân tộc, cứu đồng bào bị đọa đầy, đau khổ. Người coi đấy là lẽ sống thiêng liêng nhất. Đối với Người, tất cả mọi kế sách đều vô nghĩa nếu không nhằm tự do cho đồng bào, độc lập cho Tổ quốc. Cả cuộc đời, Người “chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”1. Hồ Chí Minh lúc thiếu thời rất khâm phục tinh thần yêu nước, xả thân vì nước của các sĩ phu văn thân, các chí sĩ như Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh. Nhưng, tư tưởng yêu nước của Hồ Chí Minh thời trẻ, ngay khi chưa gặp chủ nghĩa xã hội, đã thể hiện có tầm vượt trước những quan niệm cứu nước đương thời. Bởi đó là một tư tưởng yêu nước sáng suốt, có tính phê phán, không bảo thủ. Nó hướng tới việc tìm con đường thật sự cách mạng và khoa học, dẫn tới mục tiêu triệt để giải phóng dân tộc. Đó là tư tưởng yêu nước mang đậm tính nhân dân, tính nhân bản. Cứu nước trước hết là cứu hàng triệu “đồng bào bị đọa đầy”, những “người cùng khổ”. Trong quan niệm về mục tiêu cứu nước của Hồ Chí Minh (khi chưa là người mácxít), nước độc lập phải đi đôi với dân được hưởng quyền tự do, ấm no, hạnh phúc. Rõ ràng, mục tiêu ấy không thể tìm thấy ở con đường cứu nước trên lập trường phong kiến và cả trên lập trường tư sản hay tiểu tư sản. Ở tuổi 13, cũng như một số nhà yêu nước đương thời, Hồ Chí Minh đã sớm bị hấp dẫn bởi khẩu hiệu “Tự do, Bình đẳng, Bác ái”. Song, khác các vị ấy, Hồ Chí Minh muốn tìm hiểu đến tận nơi “cái gì ẩn đằng sau” những từ đẹp đẽ ấy, không chỉ trên lý thuyết mà ngay trên thực tế. Với một hoài bão và lòng yêu nước như thế làm hành trang, Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước. Như vậy là, chủ nghĩa yêu nước truyền thống đang đòi hỏi được đổi mới là tiền đề tư tưởng đưa Hồ Chí Minh đến một cách tự nhiên với chủ nghĩa Mác - Lênin, đáp ứng yêu cầu bức xúc của lịch sử lúc đó là phải xác định một đường lối cứu nước mới đúng đắn. Tư tưởng yêu nước Hồ Chí Minh phản ánh yêu cầu giải phóng bức xúc của dân tộc Việt Nam và các dân tộc thuộc địa nói chung.

Tư tưởng càng vĩ đại khi nguồn gốc của nó càng sâu xa, cơ sở của nó càng rộng lớn. Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ kết tinh những giá trị dân tộc, mà còn bắt nguồn từ tinh hoa văn hóa nhân loại, cả phương Đông và phương Tây mà Người đã thâu thái được. Nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài xem Hồ Chí Minh là một điển hình của các bậc hiền triết phương Đông. Cốt cách phương Đông của Người không chỉ ở văn hóa ứng xử, mà còn thể hiện ở phương pháp, phong cách tư duy và hành động, ở sự am hiểu sâu sắc và tinh tế những vấn đề lịch sử cũng như những vấn đề nóng hổi đương đại của các dân tộc phương Đông như Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Thái Lan, Lào, Campuchia...
    Nền học vấn đầu tiên mà Người tiếp nhận là Nho học. Đến tuổi thanh niên và cả thời kỳ hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh luôn quan tâm nghiên cứu các giá trị phương Đông. Trong các hệ tư tưởng cổ truyền, dễ nhận thấy Hồ Chí Minh nhắc nhiều tới Nho giáo trong các bài viết, bài nói của mình. Theo thống kê của một số nhà nghiên cứu, trong Toàn tập của Hồ Chí Minh thấy có tới khoảng 100 lần Người nhắc đến các luận điểm, cách ngôn của Khổng Tử, Mạnh Tử. Lúc này, Hồ Chí Minh dẫn lời Khổng Tử: “Học không biết chán, dạy không biết mỏi”. Lúc khác, Người dẫn Mạnh Tử: “Ai cũng tham thì nước sẽ nguy”. Chỉ riêng một luận điểm của Nho giáo là: “tiên thiên hạ ưu, hậu thiên hạ lạc” (lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ), tính ra Hồ Chí Minh đã nhắc tới 14 lần ở những thời điểm khác nhau và với những cách diễn đạt khác nhau. Theo Người, lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ, đạo đức người cộng sản cũng phải như thế.

    Tuy nhiên, Hồ Chí Minh cũng đã chỉ ra những hạn chế lớn của Nho giáo, như phân chia đẳng cấp, coi thường phụ nữ, khinh lao động chân tay... Hồ Chí Minh căn bản không dùng học thuyết Khổng Tử để cải tạo xã hội, song Người nói: “Tuy Khổng Tử là phong kiến và tuy trong học thuyết của Khổng Tử có nhiều điều không đúng song những điều hay trong đó thì chúng ta nên học”1. Người cho rằng, để kế thừa những cái hay trong tư tưởng các bậc tiền bối cần theo phương pháp Lênin. Người nói: ““Chỉ có những người cách mạng chân chính mới thu hái được những điều hiểu biết quý báu của các đời trước để lại”. Lênin dạy chúng ta như vậy”1.

    Hồ Chí Minh sử dụng không ít mệnh đề và thuật ngữ Nho giáo, song chúng ta không đồng tình với quan điểm cho rằng “Hồ Chí Minh chở chủ nghĩa Mác - Lênin trên cỗ xe Nho giáo”, rằng tư tưởng Hồ Chí Minh là sự hội tụ giữa học thuyết Khổng Tử với học thuyết Mác. Hồ Chí Minh tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin trên cơ sở chủ nghĩa yêu nước cách mạng, mà yếu tố này tuyệt nhiên không có trong học thuyết Khổng Tử. Người không bài bác những yếu tố tiến bộ trong đạo Nho, nhưng sử dụng chúng có phê phán và cải tạo lại nội dung trên cơ sở thế giới quan Mác - Lênin và nhân sinh quan cách mạng.

    Từ tuổi thiếu niên, Hồ Chí Minh đã tiếp cận những yếu tố văn hóa phương Tây qua trường học Pháp - Việt. Trong quá trình hoạt động cách mạng, Người đã đến tất cả các nước lớn ở phương Tây như Pháp, Anh, Mỹ, Đức, Italia... Mang đậm cốt cách nhà hiền triết phương Đông, nhưng Hồ Chí Minh cũng rất coi trọng văn minh phương Tây. Trong giao tiếp, ứng xử hay biểu đạt tư duy, khi cần Người cũng tỏ ra đầy bản lĩnh, hiểu biết và phong cách phương Tây. Đúng hơn, và phải nói rất tinh vi là một nhận xét có giá trị phát hiện của nhà báo Ôxíp Manđenxtam từ năm 1923 như sau: “Từ Nguyễn Ái Quốc đã toả ra một thứ văn hóa, không phải văn hóa Âu châu, mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai”1.

    Nguồn văn hóa phương Tây tác động tới Hồ Chí Minh trước hết phải kể đến tư tưởng “tự do, bình đẳng, bác ái” mà giai cấp tư sản thời đang lên đã nêu cao để tập hợp lực lượng lật đổ chế độ phong kiến. Những tư tưởng đó cũng trở thành giá trị của nhân loại, mặc dầu trong nguồn gốc ra đời nó thể hiện lợi ích của giai cấp tư sản. Hồ Chí Minh kể lại: “Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái... Người Pháp đã nói thế. Và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những chữ ấy”2.

    Khi chủ nghĩa Mác - Lênin chưa thâm nhập Việt Nam, những người yêu nước Việt Nam hết sức ngưỡng mộ Đại cách mạng Pháp 1789. Anh thanh niên Nguyễn Tất Thành cũng rất muốn tìm hiểu để xem nó có thể giúp ích gì cho công cuộc giải phóng đồng bào. Có thể nói, sức hấp dẫn đối với Nguyễn Tất Thành không phải đường lối, cách làm của Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu; cũng không phải lá cờ cải lương tư sản của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu (Trung Quốc) mà chính là những tư tưởng tiến bộ của Đại cách mạng Pháp 1789, mặc dầu ngay từ đầu Người đã cho rằng, phải tìm hiểu đến cả mặt hạn chế của nó. Đây là một trong những nguyên nhân thúc đẩy Hồ Chí Minh đi Pháp vào năm 1911. Người kể với nhà báo Ôxíp Manđenxtam: bọn Pháp “giấu không cho người nước tôi xem sách báo. Không phải chỉ sách của các nhà văn mới, mà cả Rútxô và Môngtexkiơ cũng bị cấm. Vậy thì phải làm thế nào bây giờ? Tôi quyết định tìm cách đi ra nước ngoài”1.

    Trong quá trình bôn ba tìm đường cứu nước, đi khắp các châu lục, nhất là đến những trung tâm văn minh đương thời - từ các thư viện Pari, Luân Đôn; từ những cuộc sinh hoạt luận bàn trong các hội thảo, các câu lạc bộ chính trị, văn hóa; từ sách báo; từ những quan hệ tiếp xúc với nhiều nhà trí thức, các chính khách có tiếng ở Pháp và thế giới.., Hồ Chí Minh đã thâu thái được những tinh hoa văn hóa của phương Tây cần thiết cho hoạt động cách mạng của Người.

Hồ Chí Minh tiếp thu những giá trị tư tưởng văn hóa phương Tây cũng như đối với những giá trị phương Đông, với tinh thần phê phán. Người đã trực tiếp thấy rõ ách thống trị cực kỳ tàn bạo của thực dân Pháp ở Đông Dương, những thống khổ không sao kể xiết của đồng bào mình, đã tận mắt trông thấy tội ác dã man của bọn thực dân ở tất cả các nước thuộc địa mà Người đi qua, trực tiếp chứng kiến những bất công phổ biến ngay ở những nước “văn minh”. Qua thực tế, Hồ Chí Minh đã sớm phát hiện ra mặt trái của nền văn minh phương Tây. Song, điều đó không ngăn cản Người tiếp thu, kế thừa những giá trị tốt đẹp của văn minh phương Tây.

    Trên cơ sở những nhân tố tư tưởng nói trên, đặc biệt là chủ nghĩa yêu nước thấm sâu trong dòng máu của Người, Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin. Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả sự gặp gỡ giữa chủ nghĩa yêu nước Việt Nam và chủ nghĩa Mác - Lênin. Việc Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, tìm thấy ở chủ nghĩa Mác - Lênin “cái cần thiết” và “con đường” giải phóng dân tộc Việt Nam, “ngọn hải đăng soi đường cho toàn thể nhân loại bị áp bức đi tới giải phóng” là bước quyết định trong quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh. Bắt gặp chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng yêu nước ở Nguyễn Ái Quốc có bước nhảy vọt về chất - tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc trở thành tư tưởng Hồ Chí Minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh rằng: yêu nước, anh dũng chiến đấu, hy sinh vì độc lập dân tộc không phải phẩm chất riêng ở những người cộng sản, mà là vốn có ở hàng triệu người trong Đảng cũng như ngoài Đảng. Song, chỉ có Đảng của giai cấp công nhân, được vũ trang bằng chủ nghĩa Mác - Lênin mới có đường lối đúng đắn để giải phóng dân tộc, biến chủ nghĩa yêu nước truyền thống thành chủ nghĩa yêu nước Việt Nam hiện đại trên cơ sở kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa xã hội khoa học, chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Được tư tưởng khoa học của giai cấp công nhân quốc tế soi sáng, phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam đã tìm ra đường lối cứu nước đúng đắn. Chủ nghĩa Mác - Lênin là cơ sở chủ yếu nhất hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh. Chính lý luận Mác - Lênin đã cung cấp cho Hồ Chí Minh thế giới quan và phương pháp luận duy vật biện chứng để tổng kết kiến thức, tổng kết lịch sử và kinh nghiệm thực tiễn, tìm ra con đường cứu nước mới, đưa Người vượt hẳn lên phía trước so với những người yêu nước đương thời, khắc phục căn bản cuộc khủng hoảng về đường lối giải phóng dân tộc. Theo V.I. Lênin, một người “chỉ xứng đáng với danh hiệu nhà tư tưởng khi nào họ đi trước phong trào tự phát, chỉ đường cho nó, khi nào họ biết giải quyết, trước những người khác, tất cả các vấn đề lý luận, chính trị, sách lược và các vấn đề về tổ chức mà “những yếu tố vật chất” của phong trào húc phải một cách tự phát”[2]. Hồ Chí Minh là một nhân vật kiệt xuất trong những con người như thế.

    Chủ nghĩa yêu nước là cơ sở ban đầu và động lực thúc đẩy Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin. Còn chủ nghĩa Mác - Lênin đã nâng chủ nghĩa yêu nước truyền thống ở Hồ Chí Minh lên bước phát triển mới về chất phù hợp với thời đại mới. Người nói: “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác - Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”[3].

    Ngay từ tác phẩm Đường Cách mệnh (1927), Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”[4]. Sau bao năm hoạt động ở nước ngoài, năm 1941 Bác về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Người đặt tên cho ngọn núi có hang Cốc Bó là “núi Các Mác” và dòng suối đầu nguồn là “suối Lênin”. Cho đến khi sắp từ giã thế giới này Bác còn “để sẵn mấy lời... phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin”. Đủ thấy Hồ Chí Minh thủy chung là nhà mácxít - lêninnít, nhà mácxít - lêninnít vĩ đại, vĩ đại ở sự trung thành rất mực với chủ nghĩa - trung thành theo nghĩa đầy đủ và cao nhất của từ đó, nghĩa là bao hàm phát triển sáng tạo; trung thành không phải trên từng câu, chữ mà trung thành với thực chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, trung thành trên tinh thầndĩ bất biến, ứng vạn biến”. Thật không đúng nếu chú tâm đi tìm sự khác biệt, sự đối lập nào đó giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin.

Bản chất và nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh là gì?

    3. Đại hội Đảng lần thứ VII nói về tư tưởng Hồ Chí Minh như sau: “tư tưởng Hồ Chí Minh chính là kết quả sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện cụ thể của nước ta... Đảng Cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân trọn vẹn nhất cho sự kết hợp đó, là tiêu biểu sáng ngời cho sự kết hợp giai cấp và dân tộc, dân tộc và quốc tế, độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội”1.

    Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 18-2-1995 của Bộ Chính trị (khóa VII) về những định hướng lớn trong công tác tư tưởng có đoạn: Trong khi giải quyết những vấn đề của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin trên nhiều vấn đề quan trọng, đặc biệt là lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội ở các nước thuộc địa và phụ thuộc.

    Vậy, có thể hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam, là kết quả sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin để giải quyết những vấn đề của cách mạng Việt Nam. Đó là hệ thống quan điểm, lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội ở các nước thuộc địa và phụ thuộc; là tư tưởng về sự kết hợp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người, mà hạt nhân trung tâm là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

    Nếu cho rằng tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin để giải quyết những vấn đề của cách mạng Việt Nam thì căn bản đúng, nhưng chưa thật đầy đủ, vì chưa làm nổi bật được những cống hiến mới, sáng tạo, những phát triển mới đặc biệt quan trọng của Hồ Chí Minh vào kho tàng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin; chưa làm rõ được những giá trị và ý nghĩa của tư tưởng Hồ Chí Minh (và của kinh nghiệm cách mạng Việt Nam) góp phần giải quyết những vấn đề của thời đại, đặc biệt là vấn đề con đường giải phóng dân tộc thuộc địa và phụ thuộc trên toàn thế giới; vấn đề kết hợp giai cấp và dân tộc, kết hợp độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Khẳng định những cống hiến mới ấy, những luận điểm mới ấy trong tư tưởng Hồ Chí Minh chẳng những không mâu thuẫn, trái lại còn góp phần làm thêm ngời sáng những chân lý phổ biến và sức mạnh sáng tạo của chủ nghĩa Mác - Lênin.

    Kết hợp nhuần nhuyễn giai cấp và dân tộc, độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội - đó là hạt nhân cốt lõi trong nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh.

    Đối với Hồ Chí Minh, từ lúc ra đi tìm đường cứu nước cho đến khi Người viết những lời căn dặn cuối cùng cho toàn Đảng và toàn dân, độc lập, tự do cho dân tộc bao giờ cũng chiếm vị trí hàng đầu. Năm 1920, trả lời câu hỏi tại sao bỏ phiếu cho Quốc tế III, Người đã trả lời: Đệ tam quốc tế rất chú ý đến vấn đề giải phóng thuộc địa. Năm 1966, lúc Mỹ ném bom Hà Nội, với tư cách Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Hồ Chí Minh trịnh trọng tuyên bố: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Bằng kinh nghiệm máu thịt của mình, bằng trực giác và trái tim, bằng tri thức uyên bác, bằng phương pháp khoa học biện chứng mácxít, Hồ Chí Minh hiểu hơn ai hết rằng, không có độc lập dân tộc thì sẽ không có gì hết, không thể giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người, không thể có chủ nghĩa xã hội, không thể có quan hệ bình đẳng, hợp tác, hữu nghị thật sự giữa các dân tộc. Độc lập dân tộc phải là tiền đề và điều kiện tiên quyết để tiến lên một xã hội công bằng, văn minh do nhân dân làm chủ.

    Năm 1941, trong tình hình nước sôi lửa bỏng sau khi Nhật vào Đông Dương và khi thời cơ giành độc lập dân tộc đang đến gần, Hồ Chí Minh nói: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy[5], “nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”[6]. Đó quyết không phải tư tưởng “dân tộc chủ nghĩa” mà chính là lập trường giai cấp cao nhất, sâu sắc nhất, là quan điểm mácxít - lêninnít sáng tạo nhất trong điều kiện lịch sử cụ thể Việt Nam lúc bấy giờ.

    Độc lập dân tộc là ngọn cờ của một phong trào lịch sử vĩ đại, phong trào giải phóng dân tộc, phong trào này đã đánh sập một trong những nền móng của chủ nghĩa đế quốc. Hồ Chí Minh là một trong số ít người đầu tiên thấu hiểu những tư tưởng của V.I. Lênin - những tư tưởng đánh dấu bước phát triển mới của chủ nghĩa Mác. Hồ Chí Minh nói: “Lênin là người đầu tiên đã đặt cơ sở cho một thời đại mới, thật sự cách mạng trong các nước thuộc địa... Lênin là người đầu tiên đã nhận thức và đánh giá hết tầm quan trọng lớn lao của việc lôi cuốn nhân dân các nước thuộc địa vào phong trào cách mạng. Lênin là người đầu tiên đã nhận thức rằng nếu không có sự tham gia của họ thì không thể có cách mạng xã hội”[7].

    Hồ Chí Minh là một trong số ít lãnh tụ cộng sản đầu tiên đưa cách mạng giải phóng dân tộc đi vào quỹ đạo của cách mạng vô sản, biến khẩu hiệu của Lênin “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại!” thành hiện thực sinh động. Người nói rằng: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản[8], rằng: “chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”[9]. Hồ Chí Minh đã đưa cách mạng Việt Nam đi vào giữa dòng thời đại với tầm cao của sự sáng tạo.

    Cách mạng của thời đại phải là sự kết hợp chặt chẽ cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng vô sản ở các nước tư bản. Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, chủ nghĩa đế quốc là “con đỉa hai vòi”, một vòi hút máu vô sản chính quốc, một vòi hút máu dân tộc thuộc địa, muốn tiêu diệt nó phải chặt đứt cả hai vòi, rằng do đó, cách mạng vô sản ở các nước tư bản và cách mạng giải phóng dân tộc đều là những động lực cơ bản của cách mạng thế giới giống như “hai cánh của một con chim, một cánh không thể bay được. Hồ Chí Minh là người đầu tiên chỉ ra rằng, trong thời đại ngày nay, cách mạng vô sản ở các nước tư bản không phụ thuộc một chiều vào cách mạng chính quốc, còn cách mạng thuộc địa không phải là “sản phẩm phụ” của cách mạng vô sản chính quốc như nhiều người vẫn nghĩ. Hồ Chí Minh cho rằng, cách mạng thuộc địa không bị động chờ cách mạng “chính quốc”; trái lại, một khi có thời cơ, nó có thể vùng lên, chủ động giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc, và “trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện sống còn của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc”, cách mạng thuộc địa “có thể giúp đỡ người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn”. Nhận định thiên tài này - và phải nói đây là một sáng tạo lớn của Hồ Chí Minh góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin - chứng tỏ Hồ Chí Minh có tầm nhìn chiến lược bao quát toàn thế giới, không những hiểu sâu sắc tiềm năng cách mạng giải phóng dân tộc mà còn hiểu sâu sắc tình hình cách mạng vô sản ở phương Tây.

    Tư bản là một lực lượng quốc tế. Giữa thế kỷ XIX, C.Mác đã nói như vậy. Ngày nay lại càng đúng như vậy. Để chống lại nó, vô sản tất cả các nước phải đoàn kết lại để cứu mình và cứu loài người. Vậy, nhấn mạnh “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” có giảm nhẹ cuộc đấu tranh giải phóng lao động và tinh thần quốc tế vô sản hay không? Tuyệt nhiên không. Độc lập dân tộc là một giá trị lớn, phổ biến của loài người, không chỉ ở thế kỷ vừa qua mà ngay cả hiện nay, khi những vết tích cuối cùng của hệ thống thuộc địa đã bị xóa bỏ. Bước sang thế kỷ XXI, xu thế toàn cầu hóa tăng nhanh cùng với sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại. Song, chừng nào xu thế toàn cầu hóa còn bị chi phối và dẫn đầu bởi quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, bởi chính trị bá quyền áp đặt của một số cường quốc và siêu cường thì điều đó không thể xóa đi, trái lại càng kích thích mạnh ý thức về chủ quyền quốc gia của các dân tộc, quyết không thể tước bỏ giá trị và ý nghĩa vĩ đại của chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” mà Hồ Chí Minh giương cao, được các dân tộc bị áp bức toàn thế giới thừa nhận.

    Tư tưởng Hồ Chí Minh “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” bao hàm ý nghĩa sâu sắc: giải phóng dân tộc phải dẫn tới giải phóng xã hội, giải phóng con người. Người nói: “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”1. Điều đó có nghĩa trong tư tưởng Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

    Tiến hành sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, chúng ta tìm thấy trong di sản Hồ Chí Minh những tư tưởng rất cơ bản về chủ nghĩa xã hội, mặc dù cho đến khi Người đi xa, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ mới ở bước đầu trên miền Bắc trong điều kiện cả nước còn phải lo đánh Mỹ.

    Đối với Hồ Chí Minh, xây dựng chủ nghĩa xã hội phải xuất phát từ những điều kiện cụ thể của đất nước, từ lịch sử dân tộc, từ con người Việt Nam. Khi miền Bắc bước vào giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: chúng ta phải xây dựng chủ nghĩa xã hội trên cơ sở một xã hội vừa mới thoát khỏi ách thực dân phong kiến, hết sức lạc hậu và trong hoàn cảnh nước ta đang bị chia cắt làm hai miền, trong điều kiện mà “đặc điểm to nhất” là đi từ sản xuất nhỏ đi lên. Người nói: “Trong những điều kiện như thế, chúng ta phải dùng những phương pháp gì, hình thức gì, đi theo tốc độ nào để tiến dần lên chủ nghĩa xã hội? Đó là những vấn đề đặt ra trước mắt Đảng ta hiện nay”[10].

    Hồ Chí Minh chỉ ra đặc trưng bản chất nhất của chủ nghĩa xã hội - đó là một xã hội không có chế độ người bóc lột người, một xã hội bình đẳng, nghĩa là ai cũng phải lao động và có quyền lao động, ai làm nhiều thì hưởng nhiều, làm ít thì hưởng ít, không làm không hưởng. Song, Người không dừng lại ở đặc trưng chung nhất ấy. Với cách diễn đạt thật giản dị, mộc mạc, đông đảo quần chúng có thể hiểu được, Hồ Chí Minh đã chỉ ra những đặc điểm của việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Theo Người, xây dựng chủ nghĩa xã hội là dần dần từng bước thực hiện cho được những mục tiêu thật “bình thường”, thật “đơn giản”, không cao xa, to tát, rất thiết thực, nhưng hết sức vĩ đại. Người nói: “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho nhân dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được đi học, ốm đau có thuốc, già không lao động được thì nghỉ, những phong tục tập quán không tốt dần dần được xóa bỏ (ví dụ: lấy vợ, lấy chồng sớm quá, cúng bái, liên hoan lu bù, lười biếng...). Tóm lại, xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội”[11]. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đời sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân là tiêu chí cao nhất của chủ nghĩa xã hội.
    Những luận điểm về chủ nghĩa xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội của Hồ Chí Minh thật dễ hiểu mà rất sâu sắc, tiếp tục soi sáng sự nghiệp đổi mới của Đảng và nhân dân ta. Chúng ta vẫn đang tranh luận một số vấn đề quan trọng, trong đó có vấn đề các thành phần kinh tế và vấn đề tiêu chuẩn đảng viên. Trong 50 bài ngắn gọn và hết sức súc tích về Thường thức chính trị, Bác (lấy bút danh Đ.X.) viết và cho đăng nhiều kỳ trên báo Cứu quốc năm 1953, đã đề cập hai vấn đề trên... Chúng ta cần nghiên cứu kỹ toàn bộ các bài viết đó của Bác, tất nhiên phải chú ý đến thực tế hiện nay, đặc biệt lưu ý hai vấn đề: về thành phần kinh tế và về tiêu chuẩn đảng viên. Chúng ta có thể tìm thấy trong đó những chỉ dẫn quan trọng và bổ ích. Ví dụ, về thành phần kinh tế, sau khi phân làm năm loại: A- Kinh tế quốc doanh...; B- Các hợp tác xã...; C- Kinh tế của cá nhân, nông dân và thủ công nghệ...; D- Tư bản của tư nhân...; E- Tư bản của Nhà nước (như Nhà nước hùn vốn với tư bản tư nhân để kinh doanh)..., Bác kết luận: “Trong năm loại ấy, loại a là kinh tế lãnh đạo và phát triển mau hơn cả. Cho nên kinh tế ta sẽ phát triển theo hướng chủ nghĩa xã hội chứ không theo hướng chủ nghĩa tư bản”1...

      Trong những di sản tư tưởng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại, những luận điểm của Người về xây dựng Đảng là bộ phận cực kỳ quan trọng. Những tư tưởng về Đảng của Hồ Chí Minh hết sức phong phú, toàn diện, sâu sắc, sáng tạo.

       Năm 1927, trong tác phẩm Đường cách mệnh, Người khẳng định: cách mệnh trước hết cần có Đảng. “Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam.

Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”[12].

       Những luận điểm của Hồ Chí Minh về bản chất và mục đích của Đảng, về nguyên tắc tập trung dân chủ, về quy luật phát triển Đảng, về mối liên hệ giữa Đảng với quần chúng nhân dân, về công tác tư tưởng, chính trị và tổ chức của Đảng, về tiêu chuẩn và tư cách đảng viên, về công tác cán bộ, về công tác huấn luyện, về phương pháp lãnh đạo và về lề lối làm việc của Đảng… là những chỉ dẫn hết sức cơ bản, hết sức cụ thể, mãi mãi soi sáng đường cho công tác xây dựng Đảng của Đảng ta. Hồ Chí Minh đã thâu tóm thành 12 điều về Tư cách của Đảng chân chính cách mạng như sau:

      “1. Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng.

       2. Cán bộ của Đảng phải hiểu biết lý luận cách mạng, và lý luận cùng thực hành phải luôn luôn đi đôi với nhau.

 3. Khi đặt ra khẩu hiệu và chỉ thị, luôn luôn phải dựa vào điều kiện thiết thực và kinh nghiệm cách mạng ở các nước, ở trong nước và địa phương.

       4. Phải luôn luôn do nơi quần chúng mà kiểm soát những khẩu hiệu và chỉ thị đó có đúng hay không.

5. Phải luôn luôn xem xét lại tất cả công tác của Đảng. Mọi công tác của Đảng luôn luôn phải đứng về phía quần chúng. Phải đem tinh thần yêu nước và cần, kiệm, liêm, chính mà dạy bảo cán bộ, đảng viên và nhân dân.

      6. Mỗi công việc của Đảng phải giữ nguyên tắc và phải liên hợp chặt chẽ với dân chúng. Nếu không vậy, thì chẳng những không lãnh đạo được dân chúng mà cũng không học được dân chúng.

      Chẳng những không nâng cao được dân chúng, mà cũng không biết ý kiến của dân chúng.

7. Mỗi công việc của Đảng phải giữ vững tính cách mạng của nó, lại phải khéo dùng những cách thức thi hành cho hoạt bát.

Nếu không vậy thì không biết nắm vững các cách thức tranh đấu và các cách thức tổ chức, không biết liên hợp lợi ích ngày thường và lợi ích lâu dài của dân chúng.

8. Đảng không che giấu những khuyết điểm của mình, không sợ phê bình. Đảng phải nhận khuyết điểm của mình mà tự sửa chữa, để tiến bộ, và để dạy bảo cán bộ và đảng viên.

      9. Đảng phải chọn lựa những người rất trung thành và rất hăng hái, đoàn kết họ thành nhóm trung kiên lãnh đạo.

      10. Đảng phải luôn luôn tẩy bỏ những phần tử hủ hóa ra ngoài.

11. Đảng phải giữ kỷ luật rất nghiêm từ trên xuống dưới.

Kỷ luật này là tư tưởng phải nhất trí, hành động phải nhất trí.

Kỷ luật này là do lòng tự giác của đảng viên về nhiệm vụ của họ đối với Đảng.

12. Đảng phải luôn luôn xét lại những nghị quyết và những chỉ thị của mình đã thi hành thế nào. Nếu không vậy thì những nghị quyết và chỉ thị đó sẽ hóa ra lời nói suông mà còn hại đến lòng tin cậy của nhân dân đối với Đảng.

                                     Muốn cho Đảng được vững bền

                                    Mười hai điều đó chớ quên điều nào1.

    Bàn về Đảng và công tác xây dựng Đảng, ngày nay chúng ta có thể nói và viết rất nhiều, bao nhiêu cũng không đủ, song chung quy lại không vượt quá ngoài 12 điều răn của Bác viết năm 1947, những vấn đề vẫn nóng hổi tính thời sự.

Từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 cho đến cuối đời, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến vấn đề đảng cầm quyền. Suốt 24 năm trên cương vị đứng đầu Nhà nước, đứng đầu một đảng cầm quyền, Người cùng tập thể lãnh đạo giải quyết không biết bao nhiêu vấn đề lớn của quốc gia trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, quân sự, ngoại giao, những vấn đề của kháng chiến, kiến quốc, của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, của cách mạng xã hội chủ nghĩa trên miền Bắc và sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà. Trong đó, vấn đề đảng cầm quyền bao giờ cũng là vấn đề trung tâm then chốt nhất, được Người đặc biệt chú ý. Những tư tưởng, luận điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đảng cầm quyền, và không chỉ thế, cả những việc làm thực tế và tấm gương đạo đức hằng ngày của Người trên cương vị lãnh tụ một đảng cầm quyền đã đóng góp quan trọng vào việc phát triển học thuyết Mác - Lênin về Đảng nói chung và đặc biệt trong điều kiện đảng cầm quyền.

    Điểm mấu chốt nhất cũng là phức tạp và khó khăn nhất trong vấn đề đảng cầm quyền đã được Hồ Chí Minh giải quyết một cách cực kỳ sâu sắc, nhưng thật dễ hiểu. Cái khó đối với chúng ta là thực hành sao cho đúng tư tưởng của Bác, là làm đúng gương Bác đã làm. Đó là quan điểm “dân là chủ, Chính phủ là đầy tớ của nhân dân”. Người chỉ rõ: Nước ta là nước dân chủ.

                                                “Bao nhiêu lợi ích đều dân.

                                       Bao nhiêu quyền hạn đều của dân.

                                    Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân.

                                                Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân.

                              Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra.

                                    Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên.

                                    Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân1.

       Sau Cách mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất sớm thấy nguy cơ đối với đảng cầm quyền không những là bệnh quan liêu, hách dịch, vênh váo lên mặt “quan cách mệnh”, mà cả những thói hư tật xấu khác rất dễ nảy sinh trong cán bộ, đảng viên, nhất là trong những người có chức, có quyền, như bệnh địa vị, công thần, cục bộ, địa phương, bè phái, cái thói “chỉ lo ăn ngon, mặc đẹp, lo chiếm của công làm của tư, lợi dụng địa vị và công tác của mình mà buôn bán phát tài, lo việc riêng hơn việc công”... Hồ Chí Minh chỉ rõ ba căn bệnh chính là tham ô, lãng phí, quan liêu - đó là những “thứ giặc nội xâm” mà chung quy tất cả những thói hư tật xấu trên đều bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân mà ra. Muốn cho Đảng trong sạch, Người chỉ rõ, phải “nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”.

      Trong nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh, rõ ràng một bộ phận rất quan trọng là tư tưởng về đạo đức cách mạng. Ngay từ năm 1927, chuẩn bị thành lập Đảng, trong cuốn Đường cách mệnh, sau khi dẫn lời Lênin về vai trò của lý luận cách mệnh tiên phong đối với Đảng tiên phong, Người mở đầu tác phẩm bằng mục lớn: “Tư cách một người cách mệnh, trong đó xác định những yêu cầu về đạo đức mà người cách mệnh phải có như: “Giữ chủ nghĩa cho vững. Hy sinh. Ít lòng ham muốn về vật chất”. “Vị công vong tư. Không hiếu danh, không kiêu ngạo. Nói thì phải làm”. “Quyết đoán. Dũng cảm. Phục tùng đoàn thể...”. Khi cách mạng đã giành được chính quyền và khi từ chiến tranh đã chuyển sang hoà bình xây dựng, những yêu cầu về đạo đức đối với cán bộ, đảng viên chẳng những không giảm đi, trái lại càng tăng thêm, do đó Hồ Chí Minh càng quan tâm hơn đến xây dựng Đảng về đạo đức cách mạng. Người viết trong Di chúc: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”[13]. Lời dặn cuối cùng của Người đã nói vắn tắt và đầy đủ về một điều cốt tử nhất trong xây dựng Đảng cầm quyền, nó quyết định vận mệnh của cả chế độ - đó là đạo đức cách mạng. Thực tế đang chứng thực những cảnh báo của Hồ Chí Minh về những nguy cơ mà các đảng cầm quyền, kể cả Đảng ta, có thể mắc phải, những lời cảnh báo thể hiện một nhãn quan vô cùng sáng suốt.

       Hồ Chí Minh viết: “Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”2. Song, một bộ phận không nhỏ trong Đảng không thực hiện đúng lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã trượt ngã vào vũng bùn của chủ nghĩa cá nhân, trở thành những phần tử quan liêu, ức hiếp quần chúng, tham nhũng, hối lộ, làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Mọi người chúng ta đều hiểu sâu sắc tất cả tầm quan trọng của Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng mà Đảng ta đã đề ra để đạt cho kỳ được yêu cầu.

Muốn vậy, cần chú ý ba điểm:

            1. Giương cao ngọn cờ tư tưởng Hồ Chí Minh là “nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, thực hiện thành công Di chúc thiêng liêng của Người về chỉnh đốn Đảng.

            2. Giương cao ngọn cờ tư tưởng Hồ Chí Minh là ra sức phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

            3. Giương cao ngọn cờ tư tưởng Hồ Chí Minh là giương cao ngọn cờ cách mạng và sáng tạo của chủ nghĩa Mác - Lênin, thực hiện thành công lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên Tổ quốc thân yêu của chúng ta và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.



1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.9, tr.314.

[1]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.10, tr.3.

1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.6, tr.171.

1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.4, tr.161.

1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.6, tr.46.

1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.6, tr.46.

1, 2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.1, tr.477, 478.

1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.1, tr.477.

[2]. V.I. Lênin: Toàn tập, t.5, tr.445 - 446.

[3]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.10, tr.128.

[4]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.2, tr.268.

1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1991, tr.127 - 128.

[5]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.3, tr.198.

[6]. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, t.7, tr.113.

[7]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.2, tr.219.

[8]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.9, tr.314.

[9]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.10, tr.128.

1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.4, tr.56.

[10]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.8, tr.494.

[11]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.10, tr.591.

1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.7, tr.248.

[12]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.2, tr.268.

1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, tr.249 - 250.

1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, tr.698.

[13], 2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.12, tr.510.