90 năm mở đường cho dân tộc, tiên phong trong sự nghiệp cách mạng thế giới

    09:00 01/02/2020

    • xem cỡ chữ

    • T

    • T

    • In trang
    • lượt xem: 1510

    Nhân dịp kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930-3/2/2020), Cổng Thông tin điện tử Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trân trọng giới thiệu bài viết “90 năm mở đường cho dân tộc, tiên phong trong sự nghiệp cách mạng thế giới” của PGS,TS Nguyễn Viết Thảo, Phó Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

    -----------------------------

    Một mùa Xuân cách đây 90 năm, ngày 3 tháng 2 năm 1930 chính đảng cộng sản của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam được thành lập trên cơ sở thống nhất các tổ chức cộng sản của cả nước với tên gọi Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhờ được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc lãnh đạo, tổ chức và rèn luyện; nhờ được xây dựng ngày càng vững mạnh về tư tưởng, chính trị và tổ chức, Đảng đã lãnh đạo nhân dân tiến hành thành công sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm trọn nghĩa vụ quốc tế, đổi mới và hội nhập.

    Tiến bước dưới lá cờ vinh quang của Đảng, đất nước ta từ thân phận thuộc địa đã trở thành quốc gia độc lập có chủ quyền; từ tình trạng bần cùng lạc hậu đã vươn lên thoát nghèo, trở thành nền kinh tế năng động trong khu vực và trên thế giới; từ chỗ không có tên trên bản đồ thế giới đã trở thành bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đống quốc tế; từ tình cảnh nô lệ nhân dân ta đã trở thành chủ nhân của xã hội mới, ngày càng tự do, hạnh phúc... Việt Nam đã vững vàng trên vị trí hàng đầu trong cuộc đấu tranh chống thực dân, đế quốc; trong phong trào giải phóng dân tộc; trong sự nghiệp xây dựng, đổi mới chủ nghĩa xã hội và trong cuộc đấu tranh chung vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và tiến bộ xã hội trên thế giới. Chín thập kỷ vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam là chín thập kỷ mở đường cho dân tộc và tiên phong trong sự nghiệp cách mạng thế giới:

    1. Bản Cương lĩnh đầu tiên được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng ngày 3 tháng 2 năm 1930 đã đưa ra đường lối cách mạng duy nhất đúng đắn, phù hợp gắn kết hữu cơ mục tiêu chống thực dân đế quốc, giải phóng dân tộc với mục tiêu chống chế độ phong kiến, xây dựng chế độ xã hội mới trong một quá trình đấu tranh thống nhất vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Với sự kiện này, phong trào đấu tranh yêu nước và cách mạng Việt Nam chấm dứt được hơn một nửa thế kỷ bế tắc (1868-1930) về đường lối giải phóng và con đường phát triển, gắn kết cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới.

    Được lý luận Mác - Lênin soi sáng và thực tiễn Cách mạng tháng Mười Nga thức tỉnh, giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam đã vùng dậy, đoàn kết xung quanh Đảng thực hiện hàng loạt cuộc đấu tranh cách mạng to lớn, trong đó có phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930-1931 và cuộc vận động 1936-1939, có nội dung và phương thức khác hẳn so với những phong trào đấu tranh yêu nước trước kia (phong trào Cần Vương, phong trào Đông Du, phong trào Duy Tân, các cuộc khởi nghĩa nông dân, phong trào cách mạng tư sản, tiểu tư sản, trí thức...). Cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản từ năm 1930 là một mô hình tổ chức cuộc cách mạng vô sản ở thuộc địa, góp phần bổ sung, phát triển lý luận Mác - Lênin về vấn đề dân tộc thuộc địa - một đề tài mà bản thân lãnh tụ Lênin cũng chỉ có những "sơ thảo" ban đầu và nhìn chung đội ngũ cộng sản châu Âu không có nhiều hiểu biết thực tiễn.

    2. Với 15 tuổi trẻ trung, Đảng ta đã lãnh đạo Cách mạng tháng Tám thành công, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2 tháng 9 năm 1945, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do cho dân tộc, tạo ra mốc son lớn cho phong trào chống thực dân, giải phóng dân tộc trên toàn thế giới trong thời đại ngày nay. Đồng thời, đã bổ sung, phát triển lý luận và thực tiễn "giai cấp vô sản phải biến thành dân tộc, trở thành dân tộc" trong cuộc đấu tranh chung. Thắng lợi 1945 của cách mạng Việt Nam đã mở rộng chế độ xã hội chủ nghĩa đến châu Á rộng lớn,  góp phần tạo ra tương quan lực lượng có lợi cho chủ nghĩa xã hội và xây dựng, củng cố hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới.

    Nhớ lại thời kỳ cuối thế kỷ XIX, các thế lực tư sản phương Tây hoảng sợ trước "bóng ma" cộng sản đang ám ảnh châu Âu; rồi đến tháng Mười Nga năm 1917 chúng điên cuồng trước sự ra đời của chế độ xã hội chủ nghĩa hiện thực đầu tiên, và, ngay sau chiến tranh thế giới II kết thúc, họ hoang mang tột cùng trước làn sóng cộng sản từ Đông Âu tiến vào trái tim Tây Âu. Trong đầu óc các chiến lược gia tư sản, không mấy ai hình dung được một cuộc cách mạng vô sản nổ ra tại thuộc địa Viễn Đông vào năm 1945; thậm chí, ngay trong đội ngũ các lãnh tụ Quốc tế Cộng sản ngày ấy, vẫn còn không ít tư duy cho rằng, cách mạng vô sản ở thuộc địa không thể nổ ra trước khi cách mạng vô sản ở chính quốc giành thắng lợi! Lãnh tụ Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận biết rất tinh tế các khuynh hướng vận động của thế giới, chuẩn bị đầy đủ lực lượng, chớp thời cơ thành công và lãnh đạo toàn dân tổng khởi nghĩa, lật đổ chính quyền phong kiến - thực dân - phát xít, lập nên chế độ dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Quá trình cách mạng do Đảng lãnh đạo từ năm 1930 đến năm 1945 thật sự là một sự vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận cách mạng vô sản của chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện của một quốc gia phương Đông - nơi mà theo Mác, Ăngghen có phương thức sản xuất đặc thù so với những gì mà các ông đã tổng kết để viết nên học thuyết giải phóng giai cấp cần lao trên toàn thế giới.

    Xô Viết - Nghệ Tĩnh, cao trào cách Mạng do Đảng Cộng Sản Đông Dương lãnh đạo năm 1930-1931. (minh họa: Báo Nhân Dân)

    3. Sau 9 năm trường kỳ kháng chiến và với chiến thắng Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu" ngày 7 tháng 5 năm 1954, quân và dân Việt Nam đã đánh bại đội quân viễn chinh của thực dân Pháp, dẫn đến ký kết Hiệp định Geneve lập lại hòa bình trên toàn bán đảo Đông Dương. Ngọn lửa Điện Biên Phủ - Việt Nam đã trở thành bó đuốc mở đầu cho dòng thác cách mạng giải phóng dân tộc rộng khắp Á, Phi, Mỹ La tinh. Trong vòng chưa đầy nửa thế kỷ sau năm 1954, hệ thống thuộc địa mà các thế lực thực dân dựng lên trong suốt 5 thế kỷ từ năm 1492 trên khắp địa cầu đã sụp đổ hoàn toàn vào cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX. Hơn 100 quốc gia độc lập có chủ quyền đã ra đời, tự quyết định con đường phát triển của mình không lệ thuộc vào thực dân đế quốc, làm thay đổi hẳn bản đồ chính trị thế giới.

    Chế độ thực dân Pháp được áp đặt trên đất nước Việt Nam ngay sau tiếng súng xâm lược năm 1868 và nó được tô vẽ bằng huyền thoại “khai hóa văn minh”. Thực chất đây là quá trình xâm chiếm, khai thác thuộc địa phục vụ cho chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn chuyển mình thành một thế lực độc quyền đế quốc. Trong cục diện thế giới thời kỳ chiến tranh lạnh, chủ nghĩa tư bản đế quốc cấu trúc lại hệ thống thuộc địa thành một trong những thành quách bảo vệ cuối cùng, trong đó có thuộc địa Việt Nam của thực dân Pháp. Bởi vậy, Điện Biên Phủ đã được Pháp và các đồng minh phương Tây kiến tạo thành một tập đoàn cứ điểm hùng hậu; chiến trường Việt Nam đã trở thành nơi hội ngộ của nhiều vị tướng 4 sao lừng danh nhất của quân đội viễn chinh. Theo logic tác chiến thông thường, thế trận của Pháp là “bất khả chiến bại”; nhưng quân và dân Việt Nam, bằng phương thức chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện đã biến điều tưởng như không thể thành chiến thắng hiện thực. Chiến thắng Điện Biên kết thúc 9 năm trường kỳ kháng chiến và Việt Nam trở thành tiêu điểm cho một hội nghị quốc tế giữa các cường quốc của hai hệ thống xã hội đối lập nhau; đồng thời, trở thành ngọn hải đăng và nguồn cảm hứng cách mạng đầy sinh lực cho các dân tộc Á, Phi, Mỹ La tinh đang tìm đường thoát khỏi nanh vuốt của chủ nghĩa thực dân đế quốc.

    4. Với thắng lợi của Hiệp định Paris năm 1973 buộc "Mỹ cút" khỏi Việt Nam và đại thắng mùa Xuân năm 1975 đánh "nhào" chế độ ngụy quyền Sài Gòn, quân và dân Việt Nam anh hùng đã giải phóng hoàn toàn miền Nam, tiến tới thống nhất đất nước, đi lên chủ nghĩa xã hội. Đây là chiến thắng vĩ đại của dân tộc chống đế quốc, của chủ nghĩa xã hội chống chủ nghĩa tư bản, của văn minh chống bạo tàn. Tư tưởng bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh "Không có gì quý hơn độc lập tự do" đã trở thành một chân lý thời đại. Việt Nam trở thành lương tâm và khí phách của nhân loại, tiên phong trong sự nghiệp cao cả vì hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới.

    Ngay từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, nước Mỹ đã trở thành một tấm gương về tiềm lực phát triển. Đến giữa thế kỷ XX, siêu cường Mỹ trở thành sức mạnh vượt trội và, trên nhiều phương diện, được xem như một "xã hội vĩ đại" (great society). Tận dụng ưu thế tổng hợp đó, đế quốc Mỹ thực hiện vai trò sen đầm quốc tế và triển khai các chiến lược toàn cầu chống phá mọi phong trào đấu tranh, trước hết là các cuộc cách mạng do lực lượng cộng sản lãnh đạo. Đặt trong tính toán chiến lược đó, Việt Nam trở thành nơi quân viễn chinh và sức mạnh của siêu cường Mỹ được huy động phô diễn đến mức cao nhất, cả ở chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam và chiến tranh phá hoại nhằm đưa miền Bắc xã hội chủ nghĩa trở về "thời kỳ đồ đá"! Hơn 20 năm ròng, quân và dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã làm thất bại hết chiến lược này đến chiến lược khác mà Nhà Trắng và Lầu Năm Góc nhọc nhằn xây dựng, để kết thúc chiến tranh bằng những kỳ tích 1972-1973 và Đại thắng ngày 30-4-1975. Giấc mơ mấy chục năm ấp ủ: đất nước hòa bình, thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội trở thành hiện thực.

    Chiến thắng 1975 của Việt Nam có ý nghĩa thời đại vô cùng to lớn, khẳng định sức mạnh ưu việt của chủ nghĩa xã hội trước chủ nghĩa tư bản đế quốc; sức mạnh vô địch của chủ nghĩa anh hùng cách mạng trước các thế lực xâm lược đầu sỏ hung hãn nhất; sức sống của của ngọn cờ hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Cho đến tận hôm nay, cả thế giới cũng chỉ có Việt Nam là đã đầy đủ bản lĩnh, trí tuệ dám đánh Mỹ và biết thắng Mỹ trên chiến trường. Tấm gương thức tỉnh và mở đường của Việt Nam, vì vậy, vẫn còn nguyên giá trị và cảm hứng hào hùng cho các dân tộc trong thế giới đầy chủ nghĩa cường quyền hiện nay.

    5. Từ năm 1986, với trí tuệ và bản lĩnh vốn có, Đảng Cộng sản Việt nam đã khởi xướng, lãnh đạo công cuộc đổi mới. Sau khi Liên Xô tan rã vào tháng 12 năm 1991 và các chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ, chủ nghĩa xã hội trên thế giới lâm vào khủng hoảng nặng nề cả về lý luận và thực tiễn, đối mặt với những thách thức nghiệt ngã nhất. Với bản chất của một đảng chiến đấu, Đảng ta kiên định lãnh đạo nhân dân tiếp tục đổi mới vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Sau 10 năm (1986-1996), Việt Nam về cơ bản khắc phục được khủng hoảng, bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đến năm 2010, Việt Nam ra khỏi tình trạng chậm phát triển, chấm dứt lịch sử hàng ngàn năm đói nghèo, lạc hậu để trở thành quốc gia có thu nhập trung bình trên thế giới. Thực tiễn Việt Nam đã bác bỏ một cách đầy thuyết phục luận điệu của các nhà tư tưởng tư sản về sự cáo chung của chủ nghĩa cộng sản. Việt Nam đã cống hiến một phương cách mới: đó là thông qua đổi mới vừa kiên định vừa sáng tạo để tự bảo vệ, trụ vững và phát triển chủ nghĩa xã hội!

    Trong lịch sử hình thành và phát triển, chủ nghĩa xã hội có không ít lần phải đối mặt với những thử thách ngặt nghèo của lịch sử, nhưng thử thách cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX là nghiêm trọng nhất vì cuộc khủng hoảng diễn ra trên diện rộng, toàn diện cả về tư duy, nhận thức lý luận và chính sách, hoạt động thực tiễn. Sự tan rã của Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết được cả hai phía cộng sản và đế quốc nhận định như một đại động đất địa chính trị, đẩy thế giới vào khoảng trống lớn và các lực lượng cộng sản vào tình thế mất thăng bằng một cách bất ngờ, bất thường.

    Vừa ra khỏi cuộc chiến tranh khốc liệt kéo dài sau năm 1975, lại phải đương đầu ngay sau đó với các cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở hai đầu biên giới phía Bắc, phía Tây Nam và gánh vác nghĩa vụ quốc tế nặng nề, cộng với những chính sách phát triển kinh tế  - xã hội chủ quan, duy ý chí, đến giữa thập kỷ 80 Việt Nam rơi vào một cuộc khủng hoảng gay gắt. Khi Việt Nam tiến hành đổi mới (1986), thì Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác cũng bước vào thời kỳ khó khăn, trì trệ, khủng hoảng rồi tan vỡ nhiều mảng lớn. Rõ ràng, đối với đất nước ta, hai cuộc khủng hoảng trong và ngoài đến cùng một lúc, đặt chế độ xã hội chủ nghĩa vào tình thế "ngàn cân treo sợi tóc". Phải thật sáng tỏ về hoàn cảnh đặc thù này, mới thấy hết giá trị mở đường của Đại hội VI, của đường lối Đổi mới do Đảng quang vinh khởi xướng, lãnh đạo và tổ chức thực hiện thành công trong suốt hơn 30 năm qua !

    Cũng cần so sánh thêm rằng, các quá trình cải tổ, cải cách ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, tuy được tiến hành gần như cùng thời gian với đổi mới ở Việt Nam nhưng không thành công, càng triển khai thì chủ nghĩa xã hội càng suy yếu để cuối cùng sụp đổ, tan rã một cách xót xa. Trái lại, ở Việt Nam và một số quốc gia xã hội chủ nghĩa khác, chủ nghĩa xã hội thông qua đổi mới đã tìm được những “mảnh đất hiện thực” sinh động để khẳng định sức sống và phát triển. Bí quyết làm nên sự khác nhau này chính là đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và liên tục bổ sung, phát triển là đúng đắn, phù hợp, thể hiện một lần nữa năng lực mở đường của một chính đảng “là đạo đức, là văn minh”.

    6. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008 và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư được chính thức truyền thông trên toàn cầu từ năm 2013 đã buộc cộng đồng quốc tế phải nhận thức lại về phạm trù phát triển, tái cấu trúc lại mô hình phát triển và đổi mới chiến lược phát triển ở từng quốc gia. Trước đòi hỏi rất bức thiết này của thế giới đương đại, Đảng đã lãnh đạo toàn dân tiếp tục đẩy mạnh đồng bộ và toàn diện công cuộc đổi mới, đạt thêm nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.

    Năm 2019, trong bối cảnh kinh tế và thương mại toàn cầu suy giảm, kinh tế nước ta tiếp tục tăng trưởng nhanh, đạt trên 7%, cao hơn mức kế hoạch (6,6 - 6,8%), thuộc nhóm các nước có mức tăng trưởng cao nhất trong khu vực và trên thế giới; nâng quy mô GDP lên khoảng 266 tỉ đô la Mỹ, bình quân đạt gần 2.800 đô la/người. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lần đầu tiên vượt mốc 500 tỉ đô la Mỹ (đạt khoảng 517 tỉ đô la), trong đó xuất siêu gần 10 tỉ đô la, xuất khẩu tăng khoảng 8% so với năm 2018, trong khi xuất khẩu của nhiều nước sụt giảm mạnh, thậm chí có nước tăng trưởng âm. Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn mới giảm xuống còn khoảng 4%, thấp hơn 1% so với năm 2018; tỉ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt trên 90%; hơn 54% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, về đích sớm hơn kế hoạch gần 2 năm. Việt Nam được bầu giao trọng trách Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (nhiệm kỳ thứ 2) với số phiều gần như tuyệt đối, được giữ chức Chủ tịch ASEAN năm 2020 và giành vị trí thứ 2 tại Đại hội thể thao Đông Nam Á, chỉ sau nước chủ nhà Philippines... Có lẽ chính vì vậy mà Ngân hàng Thế giới đưa ra nhận định: "Mây đen phủ lên toàn cầu, nhưng mặt trời vẫn đang toả nắng ở Việt Nam".

    Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiếp tục mở đường đổi mới tư duy và mô hình phát triển đáp ứng yêu cầu và xu hướng phát triển của thế giới hiện đại, đem lại vị thế và tiền đồ đẹp đẽ cho quốc gia dân tộc. Bạn bè quốc tế ngày nay nói về Việt Nam là nói về một thiên anh hùng ca chống thực dân đế quốc, giành độc lập tự do cho dân tộc; nhưng không chỉ có thế, các bạn còn nói về Việt Nam như một tấm gương đổi mới, hội nhập và phát triển. Các bạn hàng cần đến Việt Nam không chỉ như một thị trường để khai thác; mà là một đối tác để hợp tác cùng có lợi. Việt Nam đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế không chỉ để có thêm bạn và thích ứng với môi trường bên ngoài, mà còn để tham gia định hình các thể chế quốc tế, chủ trì phối hợp giải quyết nhiều công việc chung… Rõ ràng, Việt Nam đổi mới là một minh chứng sống động và nguồn cảm hứng quý báu cho hàng trăm quốc gia chậm phát triển, đang phát triển trên con đường thoát nghèo và cất cánh. Đồng thời, là một đóng góp có tầm vóc quốc tế cho quá trình phục hồi và phát triển của phong trào xã hội chủ nghĩa, cánh tả và cách mạng trên toàn thế giới ngày nay.

    Nhận định về thành công và ý nghĩa của công cuộc đổi mới ở Việt Nam, đông đảo đại biểu quốc tế đã khẳng định: “Với cả niềm khát khao và tính hiện thực, các đồng chí cộng sản Việt Nam đang tiếp cận những vấn đề to lớn mà thời đại chúng ta đặt ra” (J. Pall Mangnon, Ủy viên Ban Thư ký toàn quốc Đảng Cộng sản Pháp); "Tư duy đúng đắn và những kết quả đạt được của Đảng và nhân dân Việt Nam giúp toàn thể nhân loại thảo luận không chỉ về một sự khởi đầu mới, mà cả về khả năng tiến lên phía trước" (Christian Koberz, Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Đức"; "Những quan điểm phát triển đúng đắn và những thành tựu phát triển đáng khích lệ có giá trị quan trọng đem lại cho Đảng Cộng sản Việt Nam vai trò là người mở đường trong lịch sử" (U. Koichiro, Phó Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Đảng Cộng sản Nhật Bản)...

    Nhìn lại 90 năm vinh quang của Đảng, chúng ta thật sự tự hào về "pho lịch sử bằng vàng" mà lãnh tụ Hồ Chí Minh và các thế hệ những người cộng sản Việt Nam đã nối tiếp nhau xây đắp với sức mạnh vĩ đại của toàn dân tộc và sự ủng hộ, giúp đỡ chí tình của bạn bè quốc tế. Đảng là "con nòi của dân tộc" Việt Nam; đội ngũ trung kiên trong phong trào cộng sản quốc tế và Đảng đã đưa dân tộc Việt Nam đến bến bờ của độc lập, tự do, hạnh phúc; đồng thời, góp phần xứng đáng vào sự lớn mạnh của phong trào cộng sản quốc tế, ngay cả trong những giai đoạn đầy sóng gió. Truyền thống vẻ vang của 9 thập kỷ chiến đấu và chiến thắng là tiền đề vô giá cho Đảng ta tiếp tục lớn mạnh, ngày càng vững vàng trên vị trí tiên phong, mở đường! 

    PGS,TS Nguyễn Viết Thảo, Phó Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

    Tác giả: BBT

    Địa chỉ: Số 135 Nguyễn Phong Sắc, Cầu Giấy, Hà Nội