Tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của cán bộ, đảng viên và một số vấn đề đặt ra trong công tác xây dựng Đảng hiện nay

    16:38 08/10/2020

    • xem cỡ chữ

    • T

    • T

    • In trang
    • lượt xem: 1217

    Tóm tắt: Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã đóng vai trò quan trọng vào sự thành công của công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo trong gần 35 năm qua. Vì vậy, việc nghiên cứu, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên trong công tác xây dựng Đảng hiện nay có giá trị sâu sắc cả về lý luận và thực tiễn.

    Từ khóa: Tư tưởng Hồ Chí Minh; Phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị; Đạo đức, lối sống; Xây dựng Đảng.

    ------------

    1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên

    Tư tưởng chính trị là toàn bộ quá trình nhận thức tư tưởng của tổ chức đảng và đảng viên đối với đường lối chính trị của Đảng. Tư tưởng chính trị bao gồm các mức độ nhận thức như: Kiên định, không kiên định, dao động và suy thoái. Trong đó, suy thoái tư tưởng chính trị là mức độ suy yếu có tính kéo dài về mặt nhận thức, tư tưởng, thể hiện rõ nhất ở sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, dao động, mất niềm tin vào đường lối của Đảng dẫn đến không tuân thủ các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng; không làm tròn nhiệm vụ được giao. Sự suy thoái về đạo đức, lối sống thể hiện ở việc sa vào chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc...

    (ảnh_sưu tầm)

    Nhận thức được hậu quả nghiêm trọng của tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, Hồ Chí Minh đã sớm nhận diện nhiều “căn bệnh nguy hiểm”, những tiêu cực nảy sinh trong nội bộ, khi Đảng trở thành đảng cầm quyền. Từ đó, Người đưa ra nhiều biện pháp để đấu tranh phòng chống những “căn bệnh” của suy thoái tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống.

    Phai nhạt lý tưởng cách mạng là biểu hiện đầu tiên của tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị. Hồ Chí Minh cho rằng, không có lý tưởng cách mạng làm hành trang, người cán bộ, đảng viên mất đi tính tiền phong, gương mẫu, không làm tròn vai trò dẫn dắt phong trào cách mạng và lãnh đạo nhân dân. “Mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, cần phải có tính đảng mới làm được việc”1. Cán bộ, đảng viên muốn lãnh đạo vững thì trước hết phải có tư tưởng và lập trường vững chắc. “Nếu chỉ có công tác thực tế, mà không có lý tưởng cách mạng, thì cũng không phải là người đảng viên tốt”2. Người phê phán những đảng viên dao động, không kiên định lý tưởng cách mạng, vì thế họ mất dần tính chiến đấu, thờ ơ trước nhiệm vụ được giao, không dám phản bác những quan điểm, việc làm sai trái, lệch lạc: “Nghe những lời bình luận không đúng, cũng làm thinh, không biện bác. Thậm chí nghe những lời phản cách mạng cũng không báo cáo cho cấp trên biết. Ai nói sao, ai làm gì cũng mặc kệ”3.

    Sự khác biệt trong  tư duy, trong  nếp sống và hành động, giữa cũ và mới khiến một số cán bộ của Đảng được phân công đảm nhiệm các vị trí khác nhau trong bộ máy chính quyền từ Trung ương đến địa phương bắt đầu manh nha những biểu hiện “thoái đảng”. Vì vậy, Hồ Chí Minh nhiều lần căn dặn: Bổn phận của người cán bộ, đảng viên là: “Suốt đời tranh đấu cho dân tộc, cho Tổ quốc. Đặt lợi ích của cách mạng lên trên hết, lên trước hết”4. Lời huấn thị đó của Người đến nay vẫn là bài học nằm lòng đối với mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng.

    Phai nhạt lý tưởng cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh còn biểu hiện ở việc kém lý luận, khinh lý luận và lý luận suông. Người cho rằng, vì kém lý luận nên không hiểu rõ toàn cuộc của cách mạng, dẫn tới lúng túng trong phương pháp, sơ sài trong nội dung, thiếu động lực trong mục đích, nên công việc không đạt hiệu quả, thậm chí là hỏng việc. Người phê phán thái độ coi thường lý luận và việc học tập lý luận chính trị, đồng thời chỉ ra tác hại nghiêm trọng của thiếu lý luận: “Đảng phải chống cái thói xem nhẹ học tập lý luận. Vì không học lý luận thì chí khí kém kiên quyết, không trông xa thấy rộng, trong lúc đấu tranh dễ lạc phương hướng, kết quả là “mù chính trị”, thậm chí hủ hóa, xa rời cách mạng”5. Nếu ỷ lại vào kinh nghiệm cá nhân mà quên học hỏi những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn ở nơi khác, với những người khác sẽ nảy sinh tâm lý chủ quan, phiến diện. Có kinh nghiệm mà thiếu lý luận thì không khác nào một mắt sáng, một mắt mờ, do đó, phải coi trọng nghiên cứu, nghiêm túc học tập lý luận, làm giàu thêm tri thức để vận dụng vào thực tiễn. Hồ Chí Minh yêu cầu phải chấn chỉnh, sửa đổi triệt để và nghiêm túc hiện tượng nói lý luận thì hay, bắt tay vào làm thì dở, không gắn chặt giữa lý luận với thực tiễn, giữa công tác và học tập của một bộ phận cán bộ, đảng viên, tóm lại là lý luận suông.

    Từ chỗ phai nhạt lý tưởng cách mạng, Hồ Chí Minh thẳng thắn chỉ ra hàng loạt sai lầm, khuyết điểm theo hệ thống trong cán bộ, đảng viên, bao gồm: những biểu hiện không chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; sa sút ý chí phấn đấu, không gương mẫu trong công tác, thiếu tính kỷ luật và kỷ luật không nghiêm. Người phê phán các biểu hiện vi phạm nguyên tắc sinh hoạt Đảng; không phục tùng mệnh lệnh, vi phạm nguyên tắc tập trung  dân chủ, gây mất đoàn kết nội bộ; đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức; cục bộ, bè phái, kèn cựa địa vị, tranh chức, tranh quyền; độc đoán. Hồ Chí Minh yêu cầu: “Phải thật sự mở rộng dân chủ trong cơ quan. Phải luôn luôn dùng cách thật thà tự phê bình và thẳng thắn phê bình, nhất là phê bình từ dưới lên. Phải kiên quyết chống cái thói “cả vú lấp miệng em” ngăn cản quần chúng phê bình. Một đảng viên ở địa vị càng cao, thì càng phải giữ đúng kỷ luật của Đảng, càng phải làm gương dân chủ”6.

    Sa sút ý chí phấn đấu biểu hiện ở thiếu tinh  thần  trách nhiệm, lười biếng, chậm chạp: Khi nhận nhiệm vụ không chịu nghiên cứu rõ ràng; không lập tức triển khai; khi thi hành không linh hoạt, nhanh chóng hoặc thi hành một cách miễn cưỡng, không đến nơi đến chốn. Trong tự phê bình thì không dám nhận khuyết điểm, khi có khuyết điểm thì thiếu thành khẩn, không tự giác nhận kỷ luật; trong phê bình thì nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; vì nể nang mà phê bình, cảnh báo qua loa. Người cũng chỉ ra nhiều biểu hiện lợi dụng phê bình để lấy lòng nhau hoặc vu khống, bôi nhọ người khác với động cơ cá nhân không trong sáng.

    Hồ  Chí Minh nêu ra thực trạng “có người khi trước theo cách mạng mà nay lại phản cách mạng. Có người khi trước không  cách mạng mà nay lại tham  gia cách mạng. Thậm chí có người nay đang theo cách mạng, nhưng sau này có thể phản cách mạng”7. Bởi vậy, cách xem xét, sử dụng cán bộ cũng theo đó mà linh hoạt biến hóa; cần luôn luôn theo dõi, giám sát, giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên để định hướng, dẫn dắt họ đi đúng đường lối, một lòng một dạ trung thành  với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân.

    Đối với tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống, Hồ Chí Minh khẳng định căn nguyên của các chứng bệnh này là do cá nhân chủ nghĩa đem lại. Người viết: “còn có một số ít cán bộ, đảng viên mà đạo đức, phẩm chất còn thấp kém. Họ mang nặng chủ nghĩa cá nhân, việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình  trước hết. Họ không lo “mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình”8. Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, mệnh lệnh. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ. Cũng do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và của Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân.

    Người ví chủ nghĩa cá nhân  như một thứ vi trùng rất độc vì nó sinh ra các thứ bệnh rất nguy hiểm. Mà điển hình là: Bệnh tham lam, thích dùng của công vào việc tư; chỉ chăm lo cho lợi ích cá nhân mình, gia đình mình mà không nghĩ tới người khác; nghĩa là chỉ biết đặt lợi ích của mình lên trên lợi ích của Đảng, của dân tộc. Tham lam dẫn tới tham ô, lãng phí, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi cá nhân. Bệnh lười biếng, tự cho mình là giỏi nên lười học hỏi, suy nghĩ; việc dễ thì làm, việc khó thì đùn đẩy cho người khác. Bệnh kiêu ngạo, tự cao, tự đại, ham địa vị, vênh váo, khoe khoang, ưa tâng bốc, sai khiến người khác, không thèm học hỏi quần chúng, không muốn cho người khác phê bình. Bệnh hiếu danh, ưa “thành tích”, có ít xuýt ra nhiều, phô trương, tự cho mình là tài giỏi nên họ kén chọn chức danh, vị trí công tác. Thiếu kỷ luật, thích làm theo ý mình, quên đi kỷ luật của Đảng. Óc hẹp hòi, nghĩa là trong Đảng thì không biết cất nhắc những người tốt, sợ người ta hơn mình; ngoài Đảng thì khinh người, cho rằng không ai bằng mình, vì thế mà thiếu tinh thần hợp tác, thành ra cô độc. Óc địa phương, chỉ chăm lo cho được việc của cơ quan mình, bộ phận, địa phương mình, có cái nhìn cục bộ, tư tưởng lợi ích manh mún, nhỏ lẻ. Óc lãnh tụ, tự cho mình là tài giỏi, anh hùng nên không chịu học hỏi, tiếp thu những cái mới, cái hay; thậm chí, còn “kể công” với Đảng nhằm đòi ưu đãi, danh dự và địa vị. Nếu không được đáp ứng thì nảy sinh tâm lý oán trách, dần  dần  họ  xa rời Đảng, thậm  chí phá hoại chính sách và kỷ luật của Đảng. Bệnh tư túng, tranh  thủ bổ nhiệm người thân, người quen dù không đủ tiêu chuẩn, điều kiện giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý; sắp xếp cho họ vào những vị trí có nhiều lợi ích.

    Ngoài ra, Người còn chỉ ra nhiều căn bệnh khác như: “Hữu danh, vô thực”, nghĩa là làm việc không thiết thực, báo cáo không thật thà, bên ngoài bóng bẩy bên trong rỗng tuếch. Kéo bè kéo cánh, chỉ quan tâm tới lợi ích phe phái, cục bộ, dẫn đến chia rẽ, mất thân ái giữa đồng chí, đồng nghiệp, tập thể thiếu đoàn kết, thống nhất. Bệnh cận thị, không trông xa thấy rộng, không nhìn ra những vấn đề lớn, những lợi ích lâu dài mà chỉ chăm chú những việc tỉ mỉ, lợi ích trước mắt. Bệnh “cá nhân”, không phê bình trước mặt để nói sau lưng; không theo nguyên tắc sinh hoạt của Đảng; phê bình vì công kích cá nhân, cãi bướng, trả thù; gặp dân chúng thì không điều tra, không hỏi han, không tuyên truyền, không giải thích; làm việc không có kế hoạch, không đến nơi đến chốn; biết mình  có khuyết điểm, nhưng không chịu cố gắng sửa đổi…

    Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng sớm chỉ ra các bệnh với những biểu hiện quan liêu, xa rời quần chúng, không sâu sát cơ sở, thiếu kiểm tra, đôn đốc, không nắm chắc tình hình. Người yêu cầu chống các biểu hiện thờ  ơ, vô cảm, thiếu  trách  nhiệm  trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân, bởi: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”9. Người căn dặn các cán bộ, chiến sỹ phải cảnh giác với “viên đạn bọc đường”, trước hòn tên mũi đạn của kẻ thù thì không nao núng, run sợ, nhưng khi đứng trước tiền tài, danh vọng, vật chất… thì không cưỡng lại được sự cám dỗ. Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải hơn ai hết tự nhận thức, rèn luyện và gột rửa chính mình, bởi “Phải chính tâm tu thân mới có thể trị quốc bình thiên hạ”10.

    Tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên mang giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Từ sự phân tích cặn kẽ, phê bình thẳng thắn những thói hư tật xấu trong nội bộ Đảng, Hồ Chí Minh đồng thời nêu ra những phương pháp, cách thức sửa chữa những căn bệnh ấy mà mục đích cốt lõi: chỉnh Đảng là để dùi mài cán bộ và đảng viên thành những chiến sĩ xứng đáng là người đày tớ của nhân dân. Người đã chỉ dẫn cho cán bộ, đảng viên cách thức để sửa chữa, khắc phục khuyết điểm, hạn chế mà điều đầu tiên là phải có lập trường giai cấp vững chắc; phải làm đúng chính sách của Đảng và của Chính phủ, và theo đúng đường lối quần chúng trong mọi việc; phải triệt để chống bệnh quan liêu, hình thức, tham  ô, lãng phí; thật  sự thi hành dân chủ trong Đảng và trong quần chúng; thật thà tự phê bình và phê bình, phải học tập chủ nghĩa Mác - Lênin và thấm nhuần chính sách của Đảng để luôn luôn tiến bộ.

    2. Một số vấn đề đặt ra trong công tác xây dựng Đảng hiện nay

    Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, quá trình tự nhận thức để sửa mình của Đảng diễn ra trong một thời gian dài và liên tục từ khi Đảng ra đời cho tới nay. Tại Hội nghị  đại biểu toàn quốc giữa nhiệm  kỳ khoá VII (năm 1994), Đảng xác định chệch hướng xã hội chủ nghĩa, nạn tham nhũng là 2 trong 4 nguy cơ đối với Đảng, với đất nước. Đến Đại hội lần thứ VIII (năm 1996) Đảng đã chỉ ra: “một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng bản thân, phai nhạt lý tưởng, mất cảnh giác, giảm sút ý chí, kém ý thức tổ chức kỷ luật, sa đoạ về đạo đức lối sống, một số thoái hoá biến chất về chính trị”11. Vì thế, nhiệm vụ chỉnh đốn  Đảng tiếp tục trở thành một trong những ưu tiên hàng đầu trong công tác xây dựng Đảng.

    Đến Đại hội Đảng lần thứ XI, Trung ương nhận định: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc...”12. Đại hội XII của Đảng tiếp tục nhận định: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi; có mặt, có bộ phận còn diễn biến phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước”. “Những hạn chế, khuyết điểm nêu trên làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”13.

    Vì vậy, Đảng đã nhận thức và đặt vấn đề xây dựng Đảng về đạo đức thành một trong bốn trụ cột trong công tác xây dựng Đảng: “Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức”14. Trong đó, xây dựng Đảng về đạo đức là cơ sở đảm bảo để xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Xây dựng Đảng về đạo đức là động lực tu dưỡng, rèn luyện của mỗi cán bộ, đảng viên và nhân  dân. Đây cũng chính là công việc thường xuyên của các tổ chức đảng, các cấp chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội, địa phương, đơn vị, gắn với chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ.

    Thực tiễn cho thấy, qua hai nhiệm kỳ Đại hội với hai Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI, XII đem lại những kết quả tích cực trên  nhiều  phương  diện,  phản  ánh quyết  tâm  cao độ  và tinh  thần  nghiêm túc, quyết liệt của Đảng nhằm ngăn chặn và đẩy lùi tình  trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong  nội  bộ. Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII đến nay, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết liên quan đến công tác xây dựng, chỉnh đống Đảng, như: Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 30-10-2016 về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”; Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25-10-2017 về “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”; Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25-10-2017 về “Tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập”; Nghị quyết số 26- NQ/TW ngày 19-5-2018 về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”; Quy định số 08- QĐ/TW ngày 25-10-2018 về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương. Bên cạnh đó còn có nhiều văn bản của Bộ Chính trị, Ban Bí thư ban hành nhằm lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng, trong đó có các nghị quyết quan trọng về kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền; về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng... Hệ thống các văn bản đó đã tạo cơ sở chính trị quan trọng để đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới.

    (ảnh_tuyengiao.vn)

    Kết quả là, nhận thức của cấp ủy, cán bộ, đảng viên và nhân dân ngày càng đầy đủ, toàn diện và sâu sắc hơn về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn  Đảng và phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Vai trò của tổ chức đảng, người đứng đầu cơ quan,  đơn vị từng bước được phát huy. Đội ngũ cán bộ có lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, lối sống giản dị, gương mẫu, có ý thức tổ chức kỷ luật; trình độ, năng lực được nâng lên. Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng được thực hiện đồng bộ, quyết liệt, nhất là cấp Trung ương. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội đã chủ động hơn trong việc phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên góp phần điều chỉnh hành vi của cán bộ, đảng viên; cảnh báo, phòng ngừa những sai phạm có thể phát sinh trong Đảng.

    Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực nêu trên, một số cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên chưa thực sự tâm huyết, nhận thức chưa đúng và đủ về tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; tình trạng cán bộ, đảng viên, một bộ phận người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, cán bộ chủ chốt các cấp chưa gương mẫu, thiếu tinh thần trách nhiệm; hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng ở không ít cấp ủy đảng cấp tỉnh, cấp huyện và cấp cơ sở chưa thực sự rõ nét; việc thực hiện tự phê bình, phê bình còn mang tính hình thức, đại khái, thiếu quyết liệt, nhất là tại các địa phương; chưa phát huy mạnh mẽ vai trò của nhân  dân, của báo chí trong đấu tranh phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”… Dẫn đến một bộ phận cán bộ phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, làm việc hời hợt, ngại khó, ngại khổ, thậm chí suy thoái. Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý, trong đó có cả cán bộ cấp cao, thiếu gương mẫu, uy tín thấp, phẩm chất, năng lực chưa ngang tầm nhiệm vụ, vướng vào tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm. Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật gần 100 cán bộ cao cấp thuộc diện Trung ương quản lý; một số cán bộ đã bị xử lý hình sự.

    Vì vậy, quán triệt quan điểm chỉ đạo: phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên phải được gắn với xây dựng Đảng cả về tư tưởng, chính trị, tổ chức và đạo đức, toàn Đảng, toàn hệ thống chính trị và mỗi tổ chức đảng, đảng viên cần nghiêm túc thực hiện việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị 05-CT/TW, ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị gắn với Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong đó, tiếp tục thực hiện đồng bộ, có hiệu quả thực chất hơn nữa các giải pháp nhằm đấu tranh, phòng, chống suy thoái trong  cán bộ, đảng viên, bao gồm:

    Thứ nhất, tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo toàn diện của Đảng trong phòng, chống suy thoái trên các lĩnh vực; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục. Tập trung nâng cao nhận thức trong toàn Đảng về vai trò, tầm quan trọng và sự cần thiết của việc học tập, nghiên cứu, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới hiện nay. Quán triệt công tác giáo dục lý tưởng và đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên thường xuyên, toàn diện, quản lý chặt chẽ, kết quả thực chất. Các nội dung đào tạo, bồi dưỡng lý luận cần được cập nhật, bổ sung, phát triển phù hợp với từng cấp, từng ngành, từng đối tượng, từng địa phương. Chú trọng đổi mới phương pháp giáo dục, trong đó phát huy tính chủ động, tích cực, tự giác của cán bộ, đảng viên trong nghiên cứu, học tập và vận dụng lý luận vào thực tiễn. Đổi mới công tác tuyên truyền, huy động sự vào cuộc tích cực của các cấp, các ngành, nhất là các cơ quan truyền thống đại chúng trong việc đưa quan điểm, chủ trương,  đường  lối  của  Đảng  về phòng, chống suy thoái tạo nhận thức đồng bộ gắn với trách nhiệm của mỗi tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và nhân dân.

    Thứ hai, phát huy tính tích cực, chủ động tự giác trong tu dưỡng, rèn  luyện, phấn đấu của cán bộ, đảng viên. Nâng cao hơn nữa nhận thức của cán bộ, đảng viên trong phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; thực hiện nghiêm chế độ tự phê bình và phê bình; phát huy vai trò nêu gương, nhất là của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu. Phải phát huy và biến lý tưởng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cùng các giá trị đạo đức cách mạng: “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” thật sự thấm sâu vào từng cán bộ, đảng viên, trở thành nền tảng tinh thần và đạo đức của toàn Đảng. Coi trọng tự phê bình và phê bình như một phương thuốc hữu hiệu để loại trừ các căn bệnh do suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống gây ra; củng cố đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Vì vậy, cần phát huy dân chủ, trung thực, thẳng thắn, dũng cảm trong tự phê bình và phê bình; khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm; khuyến khích những ý kiến phản biện. Kiên quyết chống lại chủ nghĩa cá nhân và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Nêu cao hơn nữa vai trò tiền phong gương mẫu, nói đi đôi với làm, xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng trong sáng, giàu phẩm chất, năng lực, có đức, có tài, là tấm gương sáng cho quần chúng noi theo.

    Thứ ba, tăng cường xây dựng và hoàn thiện  hệ  thống  pháp  luật  và kiểm  soát quyền lực; hoàn thiện các chính sách liên quan  đến cán bộ. Tập trung  rà soát, bổ sung, hoàn thiện các quy định, văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, điều hành bảo đảm công khai, minh bạch, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực, “lợi ích nhóm”… Các cấp, các ngành cần đặc biệt coi trọng và thực hiện nghiêm các quy định của Đảng về công tác cán bộ. Đề cao đạo đức công vụ, trách nhiệm xã hội, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong chỉ đạo và thực thi công vụ của cán bộ, công chức. Đồng thời kiên quyết xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm  pháp  luật trong  nội  bộ, làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng, làm tổn thương tình cảm của nhân dân đối với Đảng. Kiên quyết sàng lọc, miễn nhiệm, thay thế đối với cán bộ yếu về năng lực, kém về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống. Lấy uy tín và hiệu quả công tác làm căn cứ và tiêu chí cơ bản để đánh giá, lựa chọn, bố trí cán bộ phù hợp với công việc. Nêu cao trách nhiệm của người đứng đầu ở mỗi cơ quan, đơn vị trong tổ chức thực hiện bảo đảm tính kế thừa và phát triển, chống tình trạng cục bộ, bè phái.

    Thứ tư, đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật trong Đảng, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần tăng cường kiểm tra, giám sát việc đảng viên chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, luật pháp Nhà nước; thực hiện Điều lệ Đảng, những điều đảng viên không được làm và các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” được nêu trong Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII). Cách làm phải thận trọng, làm dứt điểm từng khâu, từng công đoạn, theo một quy trình chặt chẽ; có hình thức xử lý kịp thời cán bộ, đảng viên vi phạm, đảm bảo chính xác, công khai, minh bạch. Công tác kiểm tra, giám sát phải đi vào thực chất hơn nữa nhằm phòng ngừa, nêu gương, chấn chỉnh những biểu hiện suy thoái ngay từ khi mới manh nha; phải lấy “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược lâu dài, “chống” là nhiệm vụ cấp bách, quyết liệt; phải kịp thời phát hiện, kiểm tra, làm rõ, kết luận, xử lý thật nghiêm  minh  những  cán  bộ  có  chức, có quyền vi phạm, để từ đó tìm ra các vi phạm, khuyết điểm khác còn tồn tại trong Đảng. Thông qua công tác kiểm tra, giám sát, góp phần làm chuyển biến nhận thức trong Đảng, tạo sức răn đe, giáo dục cán bộ, đảng viên về nguy cơ của tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, từ đó tiếp tục có hành động quyết liệt hơn nữa, huy động sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn dân trong đấu tranh, ngăn ngừa tình trạng suy thoái trong Đảng lẫn trong xã hội.

    Thứ năm, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội; phát huy dân chủ và vai trò giám sát, phản biện xã hội của nhân dân trong phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Thực hiện nghiêm túc, hiệu quả việc giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của người đứng đầu, cán bộ chủ chốt và cán bộ, đảng viên. Người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp phải thường xuyên lắng nghe, đối thoại trực tiếp và xử lý những phản ánh, kiến nghị của nhân dân, nhất là những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên. Phải xây dựng cơ chế công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước và thực hiện lấy ý kiến đánh giá sự hài lòng của người dân đối với cơ quan, cán bộ, công chức trực tiếp giải quyết công việc. Đồng thời, xây dựng và thực hiện cơ chế bảo vệ, khuyến khích người dân phản ánh, tố giác các biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, lãng phí, và tích cực đấu tranh phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

    Cùng với tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong giai đoạn hiện nay, phải đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong toàn hệ thống chính trị. Đồng thời, nghiêm túc tổ chức, đánh giá, nhìn nhận những kết quả đạt được và những hạn chế còn tồn tại cần khắc phục, từ đó đưa ra những giải pháp thiết thực để công tác xây dựng Đảng thực sự đạt hiệu quả cao như mong muốn, góp phần quan trọng vào sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước hiện nay.

    Bài viết được đăng tải trên Tạp chí Nghiên cứu Hồ Chí Minh, số 3-2020

    -----------

    2,4,5,8,10 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.CTQG, Hà Nội, 2011, tập 5, tr 303, 307, 298, 306, 317, 289.

    3 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 6, tr.289.

    6,7,11 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 8, tr 280, 454, 142.

    9 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 15, tr 546-547.

    12 Theo Hệ thống tư liệu - Văn kiện, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam tại địa chỉ http://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-hoi-dang/lan-thu-viii/dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-viii-cua-dang-13

    13 Văn kiện Hội nghị lần thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Nxb.CTQG, Hà Nội, 2012, tr 22.

    14 Văn kiện Hội nghị lần thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 22

    15 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb.CTQG, Hà Nội, 2016, tr 202.

     

    Tác giả: PGS,TS Nguyễn Vĩnh Thanh, Học viện Chính trị khu vực I, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

    Địa chỉ: Số 135 Nguyễn Phong Sắc, Cầu Giấy, Hà Nội