Thông tin chuyên đề về chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc và một số kết quả chính của Hiệp định thương mại EVFTA

    15:13 18/09/2019

    • xem cỡ chữ

    • T

    • T

    • In trang
    • lượt xem: 2675

    Sáng ngày 18/9/2019, Viện Thông tin khoa học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức buổi thông tin các chuyên đề “Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc và phản ứng chính sách của Việt Nam” và “Hiệp định EVFTA: Tiến trình đàm phán và một số kết quả chính”.

    PGS,TS Nguyễn Duy Bắc, Phó Giám đốc Học viện dự buổi thông tin. Thông tin do ông Nguyễn Hoài Nam, Phó Vụ trưởng Vụ Tổng hợp kinh tế và ông Trần Anh Vũ, Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác Kinh tế đa phương, Bộ Ngoại giao cung cấp.

    Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc

    Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc khởi phát từ đầu năm 2018, trải qua 12 vòng đàm phán và liên tục leo thang căng thẳng, đến nay đã mở rộng sang lĩnh vực tiền tệ. Nguyên nhân cuộc chiến xuất phát từ mục tiêu cạnh tranh chiến lược lâu dài do Mỹ muốn củng cố vị trí siêu cường nhằm “đưa nước Mỹ vĩ đại trở lại”, và để điều chỉnh phương thức kiềm chế Trung Quốc. Bên cạnh đó, cuộc chiến có nguyên nhân trực tiếp, trước mắt xuất phát từ các vấn đề kinh tế, chính trị trong lòng nước Mỹ.

    Đối với thế giới và khu vực, chiến tranh thương mại dù ở quy mô nào cũng đều làm cho môi trường kinh tế toàn cầu trở nên bất trắc, gia tăng tâm lý bất an, thúc đẩy các tập đoàn toàn cầu phải tính toán lại các chiến lược đầu tư, sản xuất kinh doanh.

    Ông Nguyễn Hoài Nam cho rằng, chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc còn kéo dài, khó lường, rất ít khả năng có thể đạt được một thỏa thuận căn bản từ nay cho đến bầu cử Tổng thống Mỹ. Việc Trung Quốc vẫn tỏ rõ cứng rắn cho thấy Trung Quốc sẵn sàng chấp nhận một cuộc chiến tranh thương mại lâu dài, ít nhất chờ đến khi bầu cử Tổng thống Mỹ năm 2020 ngã ngũ. Có thể ưu tiên của Trung Quốc hiện nay không phải là quy mô của cuộc chiến tranh thương mại mà là tính toán đến một chiến lược “chung sống, thích ứng” với thuế quan cao kéo dài.

    Ông Nguyễn Hoài Nam nhận định, từ nay đến bầu cử Mỹ năm 2020, hai bên khó có thể thỏa hiệp, thậm chí còn hành xử khó lường hơn, sử dụng nhiều công cụ chính trị, kinh tế, tài chính - tiền tệ để gia tăng sức ép lẫn nhau. Việc theo đuổi giảm giá đồng nhân dân tệ hay một chính sách đồng nhân dân tệ không phải là một chiến lược dài hạn vì Trung Quốc có mục tiêu chiến lược và tham vọng quốc tế hóa đồng nhân dân tệ, do đó Trung Quốc cần giữ uy tín của đồng nhân dân tệ. Hơn nữa, Trung Quốc có yêu cầu lớn về giữ vững ổn định chính trị - xã hội và kinh tế vĩ mô, nên rất ít khả năng thực hiện các hành xử tài chính – tiền tệ có thể gây xáo trộn, xói mòn lòng tin của thị trường.

    Hiện nay, có nhiều quan ngại về việc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc sẽ leo thang thành chiến tranh tiền tệ. Nếu tiếp cận chiến tranh tiền tệ là việc các bên bỏ qua các luật lệ về tài chính – tiền tệ để trả đũa lẫn nhau trong lĩnh vực tài chính – tiền tệ, thương mại thì việc chính quyền Tổng thống Donald Trump quy kết Trung Quốc thao túng tiền tệ được coi là động thái kích hoạt chiến tranh tiền tệ.

    Phản ứng chính sách của Việt Nam trước chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc

    Với độ mở kinh tế lớn và đang hội nhập ngày càng sâu rộng, có quan hệ thương mại, đầu tư lớn với Mỹ, Trung Quốc và nằm trong nhiều chuỗi sản xuất toàn cầu và khu vực, Việt Nam đã, đang và sẽ chịu tác động trực tiếp và gián tiếp từ chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc.

    Về đối ngoại, Việt Nam cần thận trọng, linh hoạt, khôn khéo trên cơ sở lợi ích tổng thể theo phương châm tránh bị cuốn vào “vòng xoáy” chiến tranh thương mại. Bảo đảm thống nhất, đồng bộ trong thúc đẩy quan hệ cũng như trong ứng xử với Mỹ và Trung Quốc về kinh tế, thương mại, làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác và tìm giải pháp phù hợp xử lý các vướng mắc trong quan hệ kinh tế với các đối tác.

    Về điều hành kinh tế - xã hội, kiên định giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, tiếp tục thực hiện chính sách tài khóa, tiền tệ, tỷ giá một cách chủ động, linh hoạt. Xây dựng các kịch bản tăng trưởng, phương án và giải pháp điều hành, quản lý. Tiếp tục hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, sức chống chịu trước các biến động kinh tế bên ngoài.

    Về thương mại, đẩy mạnh việc theo dõi tình hình xuất nhập khẩu với các đối tác thương mại nhằm cảnh báo nguy cơ xảy ra các vụ kiện phòng vệ thương mại, lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại, giúp doanh nghiệp chủ động phòng ngừa và ứng phó với các vụ kiện phòng vệ thương mại, hướng tới xuất khẩu bền vững. Theo dõi sát xu hướng nhập khẩu hàng hóa từ các thị trường chủ chốt. Tăng cường kiểm soát hợp tác, sản xuất, gia công hàng hóa cho các doanh nghiệp Trung Quốc nhằm tránh các gian lận về xuất xứ hàng hóa, lẩn tránh thuế gây ảnh hưởng đến sản xuất trong nước và có thể dẫn đến việc Việt Nam phải hứng chịu các biện pháp trừng phạt thương mại. Siết chặt quản lý đối với các mặt hàng có rủi ro lẩn tránh thuế. Tăng cường khuyến cáo các doanh nghiệp không tiếp tay cho hoạt động chuyển tải hàng hóa sang Việt Nam, đồng thời quản trị tốt việc lưu trữ các chứng từ về nguồn gốc, xuất xứ nguyên liệu, sản phẩm.

    Về đầu tư, cần thận trọng trong thu hút đầu tư FDI, thẩm tra kỹ các dự án có dấu hiệu gian lận xuất xứ, lợi dụng Việt Nam để trung chuyển hàng hóa qua kênh đầu tư. Về lâu dài cần đổi mới tư duy thu hút FDI, đẩy mạnh đa phương hóa, đa dạng hóa thị trường. Tăng cường xúc tiến đầu tư tại một số thị trường có công nghệ nguồn và có các tập đoàn công nghệ lớn đang có kế hoạch dịch chuyển sản xuất. Rà soát và sớm có hàng rào kỹ thuật, tiêu chuẩn, quy chuẩn cao về an ninh - quốc phòng, công nghệ, môi trường để hạn chế các luồng vốn đầu tư chất lượng thấp.

    Ông Nguyễn Hoài Nam, Phó Vụ trưởng Vụ Tổng hợp kinh tế thông tin về tình hình chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc

    Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu EVFTA

    Tháng 10/2010, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam và Chủ tịch EU đã đồng ý khởi động đàm phán Hiệp định EVFTA và đến tháng 6/2019 Hiệp định được ký kết. Hiệp định sẽ có hiệu lực sau khi được Quốc hội Việt Nam, và Nghị viện Châu Âu phê chuẩn. EVFTA là một Hiệp định toàn diện, chất lượng cao, cân bằng về lợi ích cho cả Việt Nam và EU, trong đó cũng đã lưu ý đến chênh lệch về trình độ phát triển giữa hai bên, đồng thời phù hợp với các quy định của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).

    Về mặt chiến lược, việc đàm phán và thực thi Hiệp định gửi đi một thông điệp tích cực về quyết tâm của Việt Nam trong việc thúc đẩy sự hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới trong bối cảnh tình hình kinh tế địa chính trị đang có nhiều diễn biến phức tạp và khó đoán định.

    Một số nội dung chính của Hiệp định EVFTA

    Thương mại hàng hóa, đối với xuất khẩu của Việt Nam, ngay khi Hiệp định có hiệu lực, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với khoảng 85,6% số dòng thuế, tương đương 70,3% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU. Sau 07 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 99,2% số dòng thuế, tương đương 99,7% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Đối với khoảng 0,3% kim ngạch xuất khẩu còn lại, EU cam kết dành cho Việt Nam hạn ngạch thuế quan với thuế nhập khẩu trong hạn ngạch là 0%.

    Như vậy, có thể nói gần 100% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU sẽ được xóa bỏ thuế nhập khẩu sau một lộ trình ngắn. Cho đến nay, đây là mức cam kết cao nhất mà một đối tác dành Việt Nam trong các hiệp định FTA đã được ký kết. Lợi ích này đặc biệt có ý nghĩa khi EU liên tục là một trong hai thị trường xuất khẩu lớn nhất của ta hiện nay.

    Đối với hàng xuất khẩu của EU, Việt Nam cam kết sẽ xóa bỏ thuế quan ngay khi Hiệp định có hiệu lực với 48,5% số dòng thuế (chiếm 64,5% kim ngạch nhập khẩu). Tiếp đó, sau 7 năm, 91,8% số dòng thuế tương đương 97,1% kim ngạch xuất khẩu từ EU được Việt Nam xóa bỏ thuế nhập khẩu. Sau 10 năm, mức xóa bỏ thuế quan là khoảng 98,3% số dòng thuế (chiếm 99,8% kim ngạch nhập khẩu). Đối với khoảng 1,7% số dòng thuế còn lại của EU, Việt Nam áp dụng lộ trình xóa bỏ thuế nhập khẩu dài hơn 10 năm hoặc áp dụng hạn ngạch thuế quan theo cam kết WTO.

    Các nội dung khác liên quan tới thương mại hàng hóa: Việt Nam và EU cũng thống nhất các nội dung liên quan tới thủ tục hải quan, SPS, TBT, phòng vệ thương mại, v.v, tạo khuôn khổ pháp lý để hai bên hợp tác, tạo thuận lợi cho xuất khẩu, nhập khẩu của các doanh nghiệp.

    Thương mại dịch vụ và đầu tư, cam kết của Việt Nam và EU về thương mại dịch vụ đầu tư nhằm tạo ra một môi trường đầu tư cởi mở, thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp hai bên. Cam kết của Việt Nam đi xa hơn cam kết trong WTO. Cam kết của EU cao hơn trong cam kết trong WTO và tương đương với mức cam kết cao nhất của EU trong những Hiệp định FTA gần đây của EU.

    Mua sắm của Chính phủ, Việt Nam và EU thống nhất các nội dung tương đương với Hiệp định mua sắm của Chính phủ (GPA) của WTO. Với một số nghĩa vụ như đấu thầu qua mạng, thiết lập cổng thông tin điện tử để đăng tải thông tin đấu thầu, v.v, Việt Nam có lộ trình rõ ràng để thực hiện. EU cũng cam kết dành hỗ trợ kỹ thuật cho Việt Nam để thực thi các nghĩa vụ này. Việt Nam bảo lưu có thời hạn quyền dành riêng một tỷ lệ nhất định giá trị các gói thầu cho nhà thầu, hàng hóa, dịch vụ và lao động trong nước.

    Sở hữu trí tuệ, cam kết về sở hữu trí tuệ gồm cam kết về bản quyền, phát minh, sáng chế, cam kết liên quan tới dược phẩm và chỉ dẫn địa lý, v.v. Về cơ bản, các cam kết về sở hữu trí tuệ của Việt Nam là phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành.

    Về chỉ dẫn địa lý, khi Hiệp định có hiệu lực, Việt Nam sẽ bảo hộ trên 171 chỉ dẫn địa lý của EU (bao gồm 28 thành viên) và EU sẽ bảo hộ 39 chỉ dẫn địa lý của Việt Nam. Các chỉ dẫn địa lý của Việt Nam đều liên quan tới nông sản, thực phẩm, tạo điều kiện cho một số chủng loại nông sản của Việt Nam xây dựng và khẳng định thương hiệu của mình tại thị trường EU.

    Các nội dung khác của Hiệp định EVFTA

    Hiệp định EVFTA cũng bao gồm các Chương liên quan tới cạnh tranh, doanh nghiệp nhà nước, phát triển bền vững, hợp tác và xây dựng năng lực, pháp lý-thể chế. Các nội dung này phù hợp với hệ thống pháp luật của Việt Nam, tạo khuôn khổ pháp lý để hai bên tăng cường hợp tác, thúc đẩy sự phát triển của thương mại và đầu tư giữa hai bên.

    Toàn cảnh buổi thông tin

    Tác giả: Đức Mạnh, Đỗ Dung

    Địa chỉ: Số 135 Nguyễn Phong Sắc, Cầu Giấy, Hà Nội