Tọa đàm phổ biến quán triệt nội dung Luật Tố cáo 2018

    05/12/2018 02:41 PM


    Ngày 12/6/2018, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV đã thông qua Luật Tố cáo số 25/2018/QH14, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2019.

                            TS Trần Văn Thắng, Chánh Thanh tra Học viện phát biểu khai mạc tọa đàm

    Để triển khai Luật Tố cáo 2018 trong thực tiễn được hiệu lực, hiệu quả, sáng ngày 05/12/2018, Ban Thanh tra Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh chủ trì tổ chức Tọa đàm phổ biến, quán triệt nội dung Luật Tố cáo 2018. TS Đinh Văn Minh, Viện trưởng Viện Khoa học thanh tra thuộc Thanh tra Chính phủ - diễn giả - đã giới thiệu, trao đổi với các đại biểu, nhà khoa học, cán bộ, chuyên viên làm công tác thanh tra trong hệ thống Học viện những nét mới và nội dung cơ bản của Luật Tố cáo 2018.

    Phát biểu tại tọa đàm, TS Trần Văn Thắng nhấn mạnh ý nghĩa của việc ban hành Luật Tố cáo 2018 và cho biết, đây là một trong những bộ luật quan trọng đối với cán bộ thanh tra, đặc biệt là những thanh tra viên làm công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo. Vì vậy, tất cả cán bộ thanh tra phải nắm được những nội dung cơ bản, đặc biệt là các nội dung mới của luật. 

                                             TS Đinh Văn Minh trao đổi tại tọa đàm

    Trao đổi tại tọa đàm,TS Đinh Văn Minh tập trung phân tích, diễn giải những nét khác biệt cơ bản giữa phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo, giữa Luật khiếu nại và Luật tố cáo; trên cơ sở đó, đồng chí tập trung vào những điểm mới của Luật Tố cáo năm 2018 so với Luật Tố cáo năm 2011 để phổ biến, quát triệt.

    Luật Tố cáo năm 2018 bao gồm 9 chương với 67 điều, Chương I: Những quy định chung, gồm 8 điều, từ Điều 1 đến Điều 8; Chương II: Quyền và nghĩa vụ của người tố cáo, người bị tố cáo, người giải quyết tố cáo, gồm 3 điều, từ Điều 9 đến Điều 11; Chương III: Giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ, gồm 28 điều, từ Điều 12 đến Điều 40.Chương IV: Giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật về quản lý Nhà nước trong các lĩnh vực, gồm 3 điều, từ Điều 41 đến Điều 43; Chương V: Trách nhiệm tổ chức thực hiện kết luận nội dung tố cáo, gồm 3 điều, từ Điều 44 đến Điều 46; Chương VI: Bảo vệ người tố cáo, gồm 12 điều, từ Điều 47 đến Điều 58; Chương VII: Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong việc quản lý công tác giải quyết tố cáo, gồm 3 điều, từ Điều 59 đến Điều 61. Chương VIII: Khen thưởng và xử lý vi phạm, gồm 4 điều từ Điều 62 đến Điều 65; Chương IX: Điều khoản thi hành, gồm 2 điều, từ Điều 66 đến Điều 67 quy định về hiệu lực thi hành và quy định chi tiết các điều khoản thi hành Luật.

    TS Đinh Văn Minh cho biết, Luật Tố cáo năm 2018 tiếp tục kế thừa quy định của Luật Tố cáo năm 2011 về phạm vi điều chỉnh, trong đó quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo đối với 2 nhóm hành vi vi phạm pháp luật là tố cáo hành vi vi phạm trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ và tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý Nhà nước trong các lĩnh vực.

    Theo đồng chí, điểm mới của Luật này là đã bổ sung quyền rút tố cáo của người tố cáo; bổ sung thêm một số nguyên tắc để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn hiện nay: Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức, viên chức xảy ra trong thời gian công tác trước đây nay đã chuyển sang cơ quan, tổ chức khác hoặc không còn là cán bộ, công chức, viên chức; tố cáo đối với cán bộ, công chức, viên chức của cơ quan, tổ chức đã hợp nhất, sáp nhập, chia, tách; tố cáo cán bộ, công chức, viên chức của cơ quan, tổ chức đã bị giải thể; tố cáo cơ quan, tổ chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ.

    Luật quy định thêm về thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, trong Kiểm toán Nhà nước và trong các cơ quan khác của Nhà nước như tại các cơ quan thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp.

    Đặc biệt, Luật Tố cáo mới đã dành một chương (Chương VI) quy định về bảo vệ người tố cáo. Theo đó, Luật quy định cụ thể các vấn đề cơ bản liên quan tới người được bảo vệ (Điều 47), phạm vi bảo vệ (Điều 47), quyền và nghĩa vụ của người được bảo vệ (Điều 48), cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ (Điều 49), trình tự, thủ tục bảo vệ (từ Điều 50 đến Điều 54) và các biện pháp bảo vệ (từ Điều 56 đến Điều 58)./.                                                                       

     

    Tin: Bùi Thanh; ảnh: Mạnh Thắng