Sign In

Thể chế hóa các chỉ số quản trị cấp tỉnh trong chu trình ra quyết định của chính quyền địa phương trong bối cảnh mới

  10:44 18/09/2026
Bài viết làm rõ cơ sở lý luận về thể chế hóa việc sử dụng Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) và Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI) trong chu trình ra quyết định của chính quyền địa phương. Trên cơ sở dữ liệu của hai chỉ số này tại các địa phương giai đoạn 2020–2024 và phương pháp nghiên cứu trường hợp, nghiên cứu chỉ ra khoảng cách giữa đo lường và hành động của chính quyền địa phương. Từ đó, đề xuất các hàm ý chính sách nhằm thể chế hóa việc sử dụng các chỉ số quản trị, chuyển từ công cụ đánh giá sang công cụ điều hành trong bối cảnh chính quyền địa phương hai cấp.

hình ảnh

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ ba của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV - Ảnh: VGP

 

Từ khóa: thể chế hóa, chỉ số quản trị, chu trình ra quyết định, chính quyền địa phương.

The article clarifies the theoretical basis for institutionalizing the use of the Provincial Competitiveness Index (PCI) and the Provincial Governance and Public Administration Performance Index (PAPI) in the decision-making cycle of local governments. Based on data from these two indices across localities in the 2020-2024 period and the case-study method, the study identifies the gap between measurement and action by local governments. It then proposes policy implications for institutionalizing the use of governance indices and transforming them from assessment tools into steering instruments in the context of the two-tier local-government model.

Keywords: institutionalization, provincial governance indices, decision-making cycle, local governments

---------

1. Đặt vấn đề

Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) và Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI) nhiều năm qua được sử dụng phổ biến trong đánh giá chất lượng điều hành của chính quyền địa phương. Thứ hạng tăng hay giảm thường trở thành tâm điểm chú ý, song câu hỏi cốt lõi chưa được quan tâm đầy đủ là: sau khi tiếp cận chỉ số, chính quyền đã vận hành cơ chế nào để chuyển hóa dữ liệu thành hành động cải cách? Khoảng cách giữa đo lường và thực thi đang là điểm nghẽn lớn. Báo cáo PAPI 2023 của Trung tâm Nghiên cứu Phát triển và Hỗ trợ Cộng đồng (CECODES), Trung tâm Nghiên cứu và Tư vấn về Quản lý (RTA) và Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) cho thấy mặc dù 62 trên 63 tỉnh, thành phố đã ban hành văn bản nhằm cải thiện chỉ số, nhưng các chỉ số thành phần về công khai minh bạch và trách nhiệm giải trình lại có xu hướng suy giảm, phản ánh việc sử dụng dữ liệu mới chỉ dừng ở mức hình thức (CECODES, RTA và UNDP, 2024). Báo cáo PCI 2024 của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cũng chỉ ra nhiều địa phương thiếu cơ chế ràng buộc chính sách với các mục tiêu định lượng được đo lường từ chỉ số (VCCI, 2024). Nghị quyết 202/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 01-7-2025, sắp xếp đơn vị hành chính thành 34 tỉnh và vận hành mô hình chính quyền hai cấp, làm thay đổi căn bản không gian quản trị. Quy mô lớn hơn, tính đa dạng nội vùng cao hơn khiến phương thức điều hành dựa chủ yếu vào kinh nghiệm truyền thống không còn phù hợp. PCI và PAPI cần được nhìn nhận như một hệ thống tín hiệu chính sách giúp phản ánh toàn diện môi trường kinh doanh, hiệu quả của bộ máy công quyền và mức độ hài lòng của người dân. Đây là nền tảng quan trọng để chuyển đổi phương thức quản lý từ dựa trên kinh nghiệm sang quản trị dựa trên bằng chứng thực nghiệm.

Bài viết sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu và rà soát các báo cáo PCI và PAPI hàng năm từ 2020 đến 2025 của 63 tỉnh, thành phố trước thời điểm tái cấu trúc hành chính, qua đó đánh giá mức độ thể chế hóa các chỉ số quản trị trong chu trình ra quyết định, và rút ra hàm ý chính sách cho 34 tỉnh mới trong giai đoạn tiếp theo.

2. Cơ sở lý luận về thể chế hóa các chỉ số quản trị trong chu trình ra quyết định của chính quyền địa phương

Thể chế hóa trong quản trị công được tiếp cận từ nhiều góc độ nhưng đều hướng tới mục tiêu tạo lập cơ chế vận hành ổn định, dẫn dắt hành vi của bộ máy nhà nước. North (1990) coi thể chế là tập hợp quy tắc chính thức và phi chính thức định hình tương tác xã hội, giúp giảm bất định trong quản trị. March và Olsen (1989) nhấn mạnh các tổ chức công vận hành theo logic phù hợp với giá trị được thừa nhận. OECD (2017) cho rằng thể chế hóa là quá trình chuyển các nguyên tắc thành cơ cấu, quy trình và cơ chế thực thi cụ thể. Dù tiếp cận khác nhau, các quan điểm đều thống nhất: thể chế là tổng hòa quy tắc, tổ chức và hành vi thực thi, không chỉ đơn thuần là hệ thống văn bản pháp lý. Từ nền tảng đó, thể chế hóa việc sử dụng các chỉ số quản trị là quá trình tích hợp có hệ thống các chỉ số như PCI và PAPI vào ba tầng cấu trúc chính quyền địa phương: lớp quy phạm (quy định bắt buộc dùng dữ liệu trong lập kế hoạch, đánh giá); lớp tổ chức (đầu mối phân tích, phản hồi chính sách); và lớp nhân sự (năng lực đọc, phân tích, hành động dựa trên dữ liệu). Khi dữ liệu trở thành một phần của cơ chế điều hành thường xuyên, các chỉ số quản trị không còn là thông tin tham khảo mà là thành tố nội tại của quá trình ra quyết định.

Lý thuyết hoạch định chính sách dựa trên bằng chứng là nền tảng cho việc sử dụng các chỉ số quản trị công hiện đại. Sutcliffe và Court (2005) cho rằng chính sách dựa trên bằng chứng là quá trình dùng hệ thống dữ liệu tin cậy xuyên suốt chu trình chính sách, từ nhận diện vấn đề đến đánh giá tác động. Head (2016) bổ sung rằng bằng chứng không chỉ là dữ liệu định lượng mà còn gồm kinh nghiệm thực tiễn, tri thức chuyên gia. Cairney (2016) lưu ý việc sử dụng bằng chứng chịu tác động của bối cảnh thể chế, động lực chính trị, không phải quy trình kỹ thuật thuần túy. Dù khác biệt, các cách tiếp cận đều coi dữ liệu và bằng chứng là đầu vào then chốt của quản trị hiện đại, từ nhận diện vấn đề đến giám sát.

Chỉ số quản trị như PCI và PAPI ngày càng được xem là hệ thống cảnh báo sớm về chất lượng điều hành địa phương. Theo World Bank (2013), cảnh báo sớm giúp phát hiện xu hướng bất lợi trước khi phát sinh khủng hoảng. UNDP (2018) nhấn mạnh các chỉ số quản trị là tín hiệu phản hồi xã hội đối với bộ máy công quyền. Tổng hợp từ các báo cáo PAPI giai đoạn 2020-2023 cho thấy xu hướng biến động của chỉ số qua từng năm. Malesky (2018) cho thấy biến động điểm số PCI phản ánh kỳ vọng, mức độ tin cậy của doanh nghiệp, và có thể báo trước suy giảm kinh tế vĩ mô, giúp chính quyền phản ứng kịp thời. PCI phản ánh trải nghiệm của doanh nghiệp với môi trường kinh doanh (gia nhập thị trường, tiếp cận đất đai, minh bạch, chi phí không chính thức, năng động chính quyền…). PCI 2.0 gồm 9 chỉ số, 98 chỉ tiêu, nhấn mạnh kiến tạo, phát triển và hỗ trợ doanh nghiệp trong kinh tế số. PAPI đo lường trải nghiệm người dân về quản trị công qua 8 chỉ số: tham gia cơ sở, công khai minh bạch, trách nhiệm giải trình, kiểm soát tham nhũng, thủ tục hành chính, dịch vụ công, quản trị môi trường và quản trị điện tử.

Tóm lại, thể chế hóa sử dụng PCI và PAPI là quá trình tái cấu trúc vận hành chính quyền địa phương theo hướng dựa trên dữ liệu và bằng chứng. Khi các chỉ số quản trị được tích hợp vào lập kế hoạch, đánh giá cán bộ, giám sát và điều chỉnh chính sách, chúng trở thành công cụ điều hành thường xuyên thay vì chỉ là bảng xếp hạng. Đây là nền tảng để chuyển từ mô hình quản lý dựa vào kinh nghiệm sang quản trị công hiện đại dựa trên dữ liệu, trách nhiệm giải trình và khả năng phản ứng chính sách, nhất là trong bối cảnh chuyển đổi số ở Việt Nam hiện nay.

3. Thực trạng thể chế hóa việc sử dụng PCI, PAPI vào chu trình ra quyết định của chính quyền địa phương

3.1. Thể chế hóa về văn bản pháp lý

Từ 2020-2024, việc thể chế hóa sử dụng PCI, PAPI đã chuyển từ khuyến nghị thành quy định trong hệ thống văn bản địa phương. Nếu trước đây các chỉ số chỉ được tham khảo sau công bố thì nay nhiều tỉnh đã chủ động ban hành kế hoạch, nghị quyết chuyên đề nhằm gắn kết quả PCI, PAPI với mục tiêu cải cách hành chính. Theo Báo cáo PAPI 2023, 62/63 tỉnh, thành phố đã ban hành văn bản mới về cải thiện quản trị và hành chính công (CECODES, RTA và UNDP, 2024). Văn bản gồm ba nhóm: (i) định hướng chính trị - chiến lược như nghị quyết, chương trình hành động dài hạn (ví dụ: Hà Tĩnh với Nghị quyết 12-NQ/TU năm 2022, Thái Bình với Nghị quyết 01-NQ/TU năm 2022 gắn trách nhiệm cải thiện chỉ số cho cả hệ thống); (ii) điều hành - tác nghiệp, gồm kế hoạch, chỉ thị của Ủy ban Nhân dân (UBND) hoặc sở, ngành (Tuyên Quang xác định 65 nhiệm vụ cải cách dựa trên PAPI, Bạc Liêu điều chỉnh kế hoạch qua hội nghị chuyên đề); (iii) văn bản cấp cơ sở hoặc huyện, cho thấy phân cấp ứng dụng chỉ số ở từng địa phương (Vĩnh Linh, Định Hóa coi cải thiện PAPI là nhiệm vụ cụ thể của từng đơn vị, phù hợp với đặc trưng phản ánh trải nghiệm người dân).

Đáng chú ý, nhiều địa phương như Thái Nguyên, Hà Tĩnh tích hợp nâng cao chỉ số quản trị với chuyển đổi số, đặc biệt là ở lĩnh vực quản trị điện tử. OECD (2017) nhấn mạnh việc tích hợp dữ liệu vào quá trình ra quyết định là nền tảng quản trị công hiện đại, tăng minh bạch, năng lực phản ứng. Giai đoạn này nổi bật ở ba điểm: hệ thống hóa, phân cấp thực thi và tích hợp chuyển đổi số.

3.2. Thể chế hóa về bộ máy điều hành

Song song với văn bản chính sách, một biểu hiện rõ nét của thể chế hóa là sự hình thành và vận hành các Ban chỉ đạo cấp tỉnh. Khác với giai đoạn trước khi chỉ số chỉ được dùng ở cấp tham mưu, giai đoạn này chứng kiến xu hướng tổ chức hóa việc sử dụng dữ liệu: (i) về vị trí và cơ cấu, các Ban chỉ đạo thường được thiết kế để tập trung trách nhiệm vào người đứng đầu. Tuyên Quang xác định Chủ tịch UBND tỉnh trực tiếp làm Trưởng Ban Chỉ đạo cải cách hành chính và nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (UBND tỉnh Tuyên Quang, 2024); (ii) về cơ chế vận hành, các Ban chỉ đạo được hỗ trợ bởi hệ thống cơ quan thường trực chuyên môn hóa: Sở Kế hoạch và Đầu tư phụ trách chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, Sở Nội vụ phụ trách chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh; (iii) việc thành lập Ban chỉ đạo đã được thể chế hóa qua các quyết định cụ thể, điển hình như tại Hà Tĩnh, Thái Nguyên và Tuyên Quang. Chức năng rà soát và gắn trách nhiệm giải trình được thực thi thông qua Nghị quyết số 01-NQ/TU của Tỉnh ủy Thái Bình (Tỉnh ủy Thái Bình, 2022).

Tuy nhiên, hiệu quả vận hành vẫn còn hạn chế. Dữ liệu từ Báo cáo Chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh năm 2023 cho thấy dù kiểm soát tham nhũng và quản trị điện tử đã cải thiện, các chỉ số về công khai minh bạch, trách nhiệm giải trình và sự tham gia lại có xu hướng suy giảm (CECODES, RTA và UNDP, 2024). Việc thiết lập bộ máy chưa đồng nghĩa với việc sử dụng dữ liệu hiệu quả. Ban chỉ đạo đã tồn tại như một thiết chế, nhưng chưa thực sự là trung tâm phân tích và phản ứng chính sách.

3.3. Đo lường và ra quyết định: Khoảng cách từ dữ liệu đến hành động

Trong giai đoạn 2020-2024, mặc dù thể chế hóa đã có bước tiến, song vẫn tồn tại khoảng cách giữa “đo lường” và “ra quyết định”. Để có cái nhìn tổng quan về xu hướng này, Bảng 1 dưới đây tổng hợp mức độ thể chế hóa theo các tiêu chí cụ thể tại 63 tỉnh, thành phố.

 Bảng 1: Thực trạng thể chế hóa việc sử dụng các chỉ số quản trị trong chu trình ra quyết định tại 63 tỉnh (2020-2024)

Tiêu chí đo lường mức độ thể chế hóa 2020 2022 2024 Minh chứng
Tỷ lệ tỉnh có văn bản giao chỉ tiêu PCI/PAPI cho từng Sở, Ngành 15/63 32/63 55/63 Chuyển từ “khuyến khích” sang “giao nhiệm vụ pháp lý”
Tỷ lệ tỉnh tổ chức Hội nghị phân tích chuyên sâu hàng năm 8/63 25/63 48/63 Đưa dữ liệu vào nghị sự điều hành của lãnh đạo
Tỷ lệ tỉnh thiết lập bộ phận chuyên trách/Tổ công tác liên ngành 20/63 38/63 58/63 Thể chế hóa về mặt tổ chức bộ máy chuyên môn
Tỷ lệ tỉnh có quy định đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ dựa trên chỉ số 5/63 12/63 28/63 Gắn chỉ số với đánh giá
nhân sự
Tỷ lệ tỉnh vận hành hệ thống Dashboard/Dữ liệu dùng chung nội bộ 2/63 8/63 15/63 Thể chế hóa về hạ tầng dữ liệu

Nguồn: Tính toán của tác giả dựa trên CECODES, RTA và UNDP (2024); VCCI (2022, 2024) và rà soát báo cáo cải cách hành chính của các địa phương.

Bảng 1 cho thấy xu hướng tích cực về “mở rộng hình thức thể chế hóa” ở các tiêu chí như ban hành văn bản (55/63), tổ chức hội nghị (48/63) và thiết lập bộ phận chuyên trách (58/63). Tuy nhiên, các chỉ số phản ánh thể chế hóa ở cấp độ sâu hơn - gắn với nhân sự (28/63) và hạ tầng dữ liệu (15/63) - vẫn còn rất thấp. Điều này lý giải vì sao việc sử dụng chỉ số vẫn mang tính hình thức ở nhiều nơi. Bảng 2 dưới đây tổng hợp 5 nhóm rào cản chính trong quá trình thể chế hóa.

Bảng 2: Ma trận rào cản trong quá trình thể chế hóa việc sử dụng PCI, PAPI tại các địa phương (2020-2024)

Nhóm rào cản Tần suất
 (Số tỉnh)
Biểu hiện đặc trưng Hệ quả
Quy phạm 52/63 Thiếu chế tài bắt buộc điều chỉnh chính sách khi chỉ số thấp Thể chế hóa mang tính hình thức
Tổ chức 48/63 Nghẽn thông tin ở cấp trung gian; cấp xã thiếu thẩm quyền Không chuyển hóa thành hành động thực địa
Nhân sự 55/63 Thiếu kỹ năng phân tích dữ liệu Không xác định được nguyên nhân gốc rễ
Dữ liệu 45/63 Độ trễ cao, thiếu dữ liệu thời gian thực Quyết định mang tính phản ứng
Văn hóa 30/63 “Bệnh thành tích”, chạy theo điểm số Lệch pha giữa điểm số và thực tế

Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ CECODES, RTA và UNDP (2024), VCCI (2024) và phân tích văn bản của địa phương.

Số liệu từ Bảng 2 cho thấy rào cản lớn nhất nằm ở nhóm nhân sự (55/63 tỉnh) và nhóm quy phạm (52/63 tỉnh). Việc thiếu kỹ năng phân tích dữ liệu khiến cán bộ không thể xác định được nguyên nhân gốc rễ khi chỉ số giảm, dẫn đến các giải pháp mang tính đối phó, chạy theo điểm số. Trong khi đó, việc thiếu chế tài bắt buộc điều chỉnh chính sách khi chỉ số thấp khiến các văn bản chỉ dừng ở mức khuyến nghị, không tạo ra áp lực thực thi thực sự. Rào cản về tổ chức (48/63 tỉnh) phản ánh tình trạng nghẽn thông tin giữa cấp tỉnh và cấp cơ sở, nơi người dân trực tiếp trải nghiệm dịch vụ công nhưng lại thiếu thẩm quyền để đưa ra quyết định. Rào cản về dữ liệu (45/63 tỉnh) và văn hóa (30/63 tỉnh) bổ sung cho bức tranh: ngay cả khi có dữ liệu, độ trễ cao khiến quyết định luôn ở thế phản ứng thay vì chủ động; và “bệnh thành tích” làm sai lệch mục đích sử dụng chỉ số.

Tóm lại, sự lệch pha không nằm ở việc thiếu dữ liệu mà ở năng lực và cơ chế sử dụng dữ liệu. Khi thể chế dừng ở mức “có văn bản” mà chưa đi tới “có hành động”, khi bộ máy thiếu năng lực phân tích, và khi văn hóa điều hành còn nặng về thành tích, thì dữ liệu, dù đầy đủ, vẫn không thể trở thành cơ sở cho quyết định chính sách hiệu quả.

3.4. Vấn đề đặt ra

Mặc dù quá trình thể chế hóa việc sử dụng PCI và PAPI trong giai đoạn 2020-2024 đã đạt được những kết quả nhất định, song thực tiễn triển khai cho thấy còn tồn tại nhiều vấn đề mang tính cấu trúc, phản ánh khoảng cách giữa thiết kế thể chế và hiệu quả vận hành. Cụ thể là:

Thứ nhất, tính hình thức trong việc thực thi và xu hướng đối phó với khảo sát. Rào cản về văn hóa (30/63 tỉnh) và quy phạm (52/63 tỉnh) có thể lý giải hiện tượng này. PAPI 2023 ghi nhận việc một số địa phương can thiệp vào quá trình khảo sát, như căn dặn, hướng dẫn người dân cách trả lời, buộc nhóm nghiên cứu phải loại bỏ dữ liệu (CECODES, RTA và UNDP, 2024). Chỉ số được xem như mục tiêu chiến lược cần đạt thay vì công cụ phản ánh thực tiễn, gây sai lệch thông tin đầu vào. Việc triển khai ISO 9001:2015 tại một số cơ quan vẫn mang tính hình thức, và trong chuyển đổi số, tồn tại hiện tượng số hóa nửa vời: khoảng một nửa người dùng dịch vụ trực tuyến vẫn phải đến trực tiếp để hoàn tất thủ tục (CECODES, RTA và UNDP, 2024).

Thứ hai, cơ chế trách nhiệm giải trình chưa hiệu quả. Rào cản về tổ chức (48/63) và quy phạm (52/63) là nguyên nhân sâu xa. Dữ liệu PAPI cho thấy chỉ số về trách nhiệm giải trình luôn ở mức thấp, với điểm trung bình của các tỉnh dưới 4,66/10 (CECODES, RTA và UNDP, 2024). Gần 50% người dân đã gửi kiến nghị nhưng chưa đến một nửa hài lòng với phản hồi. Tồn tại hiện tượng ủy quyền ngược khi lãnh đạo giao toàn bộ việc theo dõi chỉ số cho cấp dưới nhưng thiếu giám sát trực tiếp. Kênh phản hồi qua môi trường điện tử chưa phát huy hiệu quả; chỉ số về mức độ phúc đáp qua cổng thông tin điện tử vẫn duy trì ở mức thấp trong nhiều năm.

Thứ ba, hạn chế về năng lực phân tích dữ liệu và năng lực công nghệ ở cấp cơ sở. Rào cản về nhân sự phản ánh vấn đề này. Một bộ phận cán bộ, công chức, đặc biệt ở cấp xã, thiếu kỹ năng phân tích dữ liệu và tư duy chính sách dựa trên bằng chứng. Đề án cải cách hành chính Hà Tĩnh (2022-2025) đã chỉ ra nhu cầu đào tạo đội ngũ cơ sở (UBND tỉnh Hà Tĩnh, 2022). Nguồn nhân lực công nghệ thông tin trong khu vực công còn thiếu, dẫn đến việc triển khai các nền tảng số chưa đồng bộ.

4. Hàm ý chính sách

Vận hành mô hình 34 tỉnh trong điều kiện chính quyền địa phương 2 cấp làm thay đổi cấu trúc thông tin của hệ thống quản trị theo hướng trực tiếp, ngắn mạch và ít tầng nấc trung gian hơn. Tín hiệu phản ánh từ người dân và doanh nghiệp được chuyển trực tiếp từ cấp xã lên cấp tỉnh, trách nhiệm xử lý không còn bộ đệm trung gian để phân tán. PCI và PAPI do đó không còn là công cụ đánh giá hậu kiểm, mà trở thành dữ liệu vận hành theo thời gian thực. Trọng tâm không phải là cải thiện thứ hạng, mà là thiết kế cơ chế để mỗi điểm số đi kèm một hành động quản trị cụ thể, có địa chỉ chịu trách nhiệm và có khả năng kiểm chứng. Từ đó, cần tập trung vào các giải pháp sau:

Thứ nhất, lồng ghép chỉ số PCI và PAPI vào quy trình thẩm định chính sách có giá trị pháp lý bắt buộc. Các dự thảo nghị quyết, quyết định, đề án cải cách thủ tục hành chính bắt buộc phải có mục tiêu định lượng dựa trên PCI và PAPI (ví dụ: thời gian xử lý, tỷ lệ hài lòng, chi phí không chính thức) mới đủ điều kiện trình ký. Cơ quan thẩm định được phép trả hồ sơ nếu thiếu các chỉ số này. Chế tài bắt buộc này chuyển hóa khuyến nghị thành yêu cầu pháp lý, khắc phục tình trạng cải cách hình thức.

Thứ hai, chuyển hóa biến động chỉ số thành lệnh điều hành có thời hạn và có địa chỉ cụ thể. Khi một chỉ số thành phần của PCI hoặc PAPI giảm, hệ thống quản trị nội bộ của tỉnh sẽ tự động phát sinh văn bản giao nhiệm vụ cho cơ quan chủ trì (Sở, ban, ngành hoặc UBND cấp xã), trong đó quy định rõ thời hạn xử lý (ví dụ 30 ngày) và chỉ tiêu đầu ra cụ thể (như rút ngắn thời gian cấp phép xây dựng, công khai quy hoạch trên cổng thông tin xã). Việc xử lý chỉ số giảm không dừng ở họp rút kinh nghiệm, mà phải có sản phẩm quản trị cụ thể và được công khai trên hệ thống giám sát nội bộ.

Thứ ba, gắn kết quả PAPI và PCI theo từng xã với đánh giá cán bộ cấp cơ sở. Bỏ cấp huyện, trách nhiệm cung ứng dịch vụ công dồn trực tiếp lên cấp xã. Do đó, bộ chỉ tiêu đánh giá Chủ tịch xã và cán bộ công chức cấp xã phải được xây dựng dựa trên các chỉ số PAPI cụ thể của địa bàn xã đó, bao gồm: tỷ lệ công khai ngân sách, tỷ lệ xử lý thủ tục đúng hẹn, tỷ lệ phản hồi kiến nghị của người dân. Nếu các chỉ số này thấp, người đứng đầu xã phải giải trình trước UBND tỉnh và xây dựng kế hoạch cải thiện có lộ trình. Cơ chế này tạo áp lực trực tiếp từ dữ liệu đến cá nhân chịu trách nhiệm.

Thứ tư, vận hành hệ thống điều hành số theo thời gian thực với chức năng cảnh báo sớm và can thiệp nhanh. Hệ thống Dashboard của tỉnh không hiển thị điểm tổng hợp cuối kỳ, mà cập nhật liên tục các chỉ số thành phần PCI, PAPI theo từng xã, từng lĩnh vực quản lý. Khi một chỉ số có xu hướng giảm liên tiếp (ví dụ tỷ lệ hài lòng về thủ tục đất đai giảm hai quý liền), hệ thống tự động phát cảnh báo đỏ và gửi thông báo đến cơ quan phụ trách. Lãnh đạo tỉnh không chờ báo cáo tổng kết cuối năm mới hành động, mà can thiệp ngay khi dữ liệu bắt đầu lệch khỏi ngưỡng chuẩn. Quản trị hiệu năng trong bối cảnh mới không dựa vào báo cáo đã hoàn thành, mà dựa vào tốc độ phát hiện và xử lý các tín hiệu bất thường từ dữ liệu vận hành.

5. Kết luận

Thể chế hóa sử dụng các chỉ số quản trị như PCI và PAPI trong chu trình ra quyết định giúp chuyển các thước đo đánh giá thành công cụ điều hành thực chất của chính quyền địa phương. Khi dữ liệu được tích hợp vào thẩm định chính sách, phân công trách nhiệm và giám sát thực thi, các chỉ số không còn dừng lại ở báo cáo xếp hạng mà trở thành cơ sở cho hành động cụ thể. Trong bối cảnh mô hình 34 tỉnh và chính quyền địa phương 2 cấp, thể chế hóa chính là điều kiện để bảo đảm dữ liệu được chuyển hóa thành hiệu năng quản trị.

PGS,TS Hoàng Văn Hoan, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Tài liệu tham khảo

1. Cairney, P. (2016). The Politics of Evidence-Based Policy Making. London: Palgrave Macmillan.

2. CECODES, RTA & UNDP (2024). Chỉ số Hiệu quả Quản trị và Hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI): Đo lường từ kinh nghiệm thực tiễn của người dân, năm 2023. Hà Nội: UNDP.

3. Head, B.W. (2016). Toward More “Evidence-Informed” Policy Making?. Public Administration Review, 76(3), 472-484.

4. Malesky, E.J. (2018). The Vietnam Provincial Competitiveness Index: Measuring Economic Governance for Private Sector Development. Hanoi: VCCI & USAID.

5. March, J.G. & Olsen, J.P. (1989). Rediscovering Institutions: The Organizational Basis of Politics. New York: Free Press.

6. North, D.C. (1990). Institutions, Institutional Change and Economic Performance. Cambridge: Cambridge University Press.

7. OECD (2017). OECD Regulatory Policy Outlook 2017. Paris: OECD Publishing.

8. VCCI (2022). Các báo cáo Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) các năm 2021. Hà Nội: VCCI.

9. VCCI (2024). Các báo cáo Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) các năm 2023. Hà Nội: VCCI.

10. Sutcliffe, S. & Court, J. (2005). Evidence-Based Policymaking: What is it? How does it work? What relevance for developing countries?. London: ODI.

11. Tỉnh ủy Thái Bình (2022). Nghị quyết số 01-NQ/TU về cải cách hành chính và nâng cao chỉ số quản trị địa phương. Thái Bình.

12. UBND tỉnh Hà Tĩnh (2022). Đề án cải cách hành chính tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2022-2025. Hà Tĩnh.

13. UBND tỉnh Tuyên Quang (2024). Thông báo số 107/TB-UBND về kiện toàn Ban Chỉ đạo cải cách hành chính và nâng cao chỉ số PCI. Tuyên Quang.

14. UNDP (2018). Governance Indicators: A Users’ Guide. New York: UNDP.

15. World Bank (2013). Early Warning Systems: A State of the Art Analysis and Future Directions. Washington, D.C.: World Bank Group.

Tạp chí Kinh tế và Quản lý, số 93 (5-2026)

Alternate Text

Thể chế hóa các chỉ số quản trị cấp tỉnh trong chu trình ra quyết định của chính quyền địa phương trong bối cảnh mới

  10:44 18/09/2026

Bài viết làm rõ cơ sở lý luận về thể chế hóa việc sử dụng Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) và Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI) trong chu trình ra quyết định của chính quyền địa phương. Trên cơ sở dữ liệu của hai chỉ số này tại các địa phương giai đoạn 2020–2024 và phương pháp nghiên cứu trường hợp, nghiên cứu chỉ ra khoảng cách giữa đo lường và hành động của chính quyền địa phương. Từ đó, đề xuất các hàm ý chính sách nhằm thể chế hóa việc sử dụng các chỉ số quản trị, chuyển từ công cụ đánh giá sang công cụ điều hành trong bối cảnh chính quyền địa phương hai cấp.

Nghiên cứu sinh Trần Văn Dư tóm tắt những kết luận mới của luận án

  10:19 18/09/2026

Nội dung đính kèm

Nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Hằng tóm tắt những kết luận mới của luận án

  10:14 18/09/2026

Nội dung đính kèm

Bế giảng Lớp bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng năm 2026

  10:09 18/09/2026

Chiều ngày 17/9/2026, tại Hà Nội, Ban Thường vụ Đảng ủy Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trang trọng tổ chức lễ bế giảng Lớp bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng năm 2026, sau thời gian học tập, nghiên cứu nghiêm túc và trách nhiệm. PGS,TS Hoàng Phúc Lâm, Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Giám đốc Học viện dự và chủ trì buổi Lễ.

Luận án và tóm tắt luận án của Nghiên cứu sinh Lê Thị Phương sau bảo vệ cấp Học viện

  10:08 18/09/2026

Nội dung đính kèm

Nghiên cứu sinh Lê Thị Huệ tóm tắt những kết luận mới của luận án

  10:05 18/09/2026

Nội dung đính kèm

Nghiên cứu sinh Nguyễn Duy Dũng tóm tắt những kết luận mới của luận án

  10:03 18/09/2026

Nội dung đính kèm

Công trình tổng kết phải bồi đắp bản lĩnh của Đảng, phát huy sức sáng tạo của nhân dân

  21:15 17/09/2026

Sáng 17/9, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Ban Chỉ đạo Tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam (1930-2030), định hướng lãnh đạo phát triển đất nước trong 100 năm tiếp theo (2030-2130) và tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Ban Chỉ đạo) họp Phiên thứ 2.

Xây dựng nguồn tài nguyên dữ liệu quốc gia thống nhất, dùng chung

  21:00 17/09/2026

Xác định cơ sở dữ liệu là nguồn tài nguyên đặc biệt phục vụ phát triển đất nước, Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu đề nghị các bộ, ngành, địa phương nỗ lực hoàn thành, kết nối cơ sở dữ liệu, tạo thành hệ thống thống nhất, dùng chung trong cả hệ thống chính trị.

Hội đồng đánh giá, nghiệm thu đề tài khoa học cấp Bộ trọng điểm “Nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của giảng viên trường chính trị đáp ứng yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng hiện nay”

  20:50 17/09/2026

Sáng ngày 17/9/2026, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức họp Hội đồng đánh giá, nghiệm thu đề tài khoa học cấp Bộ trọng điểm “Nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của giảng viên trường chính trị đáp ứng yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng hiện nay”. PGS,TS Hoàng Phúc Lâm, Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng chủ trì phiên họp.

Công bố Quyết định bổ nhiệm lại chức danh Phó Vụ trưởng Vụ Quản lý đào tạo, bồi dưỡng

  16:05 17/09/2026

Sáng ngày 17/9/2026, tại Hà Nội, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức Lễ công bố Quyết định bổ nhiệm lại chức danh Phó Vụ trưởng Vụ Quản lý đào tạo, bồi dưỡng. PGS,TS Nguyễn Duy Bắc, Phó Giám đốc Học viện dự và chủ trì buổi lễ.

Mục lục Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa và Phát triển, số 6 (Tháng 3-2024)

  15:58 17/09/2026

Trân trọng giới thiệu bạn đọc Mục lục Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa và Phát triển, số 6 (Tháng 3-2024)

Mục lục Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa và Phát triển, số 5 (Tháng 12-2023)

  15:52 17/09/2026

Trân trọng giới thiệu bạn đọc Mục lục Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa và Phát triển, số 5 (Tháng 12-2023)

Mục lục Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa và Phát triển, số 4 (Tháng 9-2023)

  15:48 17/09/2026

Trân trọng giới thiệu bạn đọc Mục lục Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa và Phát triển, số 4 (Tháng 9-2023)

Mục lục Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa và Phát triển, số 3 (Tháng 6-2023)

  15:39 17/09/2026

Trân trọng giới thiệu bạn đọc Mục lục Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa và Phát triển, số 3 (Tháng 6-2023)

Xem thêm tin mới

Đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện thăm, tặng quà chúc Tết Bính Ngọ 2026 tại tỉnh Điện Biên

Đoàn công tác Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh làm việc tại Séc

Các đơn vị, địa phương hỗ trợ tỉnh Nghệ An khắc phục hậu quả bão số 10

Đại hội Thi đua yêu nước Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh lần thứ VI (2025-2030) [Video]

Phim tổng kết các mặt hoạt động của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh năm 2024

75 năm truyền thống vẻ vang trường Đảng mang tên Bác

Hội thảo khoa học quốc tế “Chuyển đổi năng lượng hướng tới công bằng và phát triển bền vững”

Chỉ thị của Ban Bí thư triển khai thi hành Hiến pháp

Năm phát hành

Xem

Thống kê lượt truy cập

Lượt truy cập:

Khách online: