
Giảng viên và học viên Trường Chính trị ThànhphốCần Thơ thảo luận những tình huống cán bộ cấp xã có thể gặp trong quá trình thực thi công vụ
Khi 'tại sao' chưa nối được với 'làm thế nào'
Được hỏi khoảng cách lớn nhất giữa chương trình đào tạo hiện nay với công việc thực tế của cán bộ xã, ông Dương Quốc Hoàng, Phó Hiệu trưởng Trường Chính trị Phạm Hùng (tỉnh Vĩnh Long) không cho rằng vấn đề nằm ở kiến thức lý luận.
“Khoảng cách lớn nhất không nằm ở kiến thức lý luận mà ở thẩm quyền”, ông Hoàng cho biết. Theo ông, chương trình hiện hành vẫn được thiết kế theo logic ba cấp, trong khi từ khi vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, cán bộ xã phải trực tiếp xử lý nhiều công việc trước đây thuộc cấp huyện. Học viên có thể nắm được quan điểm, đường lối nhưng khi trở về vị trí công tác lại lúng túng ở quy trình, hồ sơ, thời hạn và trách nhiệm pháp lý.
Ông khái quát: Chương trình đang mạnh ở phần "tại sao" nhưng còn mỏng ở phần "làm thế nào và ai chịu trách nhiệm".
Ở góc nhìn rộng hơn, TS. Trần Hoàng Hiểu, Trưởng ban Quản lý khoa học và Hợp tác quốc tế, Học viện Chính trị khu vực IV, đặt yêu cầu đổi mới đào tạo cán bộ cấp xã theo hướng gắn lý luận với thực tiễn, chuẩn hóa với phát triển năng lực, đào tạo chức danh với khả năng thực thi nhiệm vụ. Cán bộ cơ sở không chỉ cần phẩm chất chính trị, đạo đức công vụ mà còn phải có năng lực quản trị địa phương và khả năng tổ chức thực hiện những nhiệm vụ mới.
Điều đó không có nghĩa giảm hoặc cắt phần lý luận chính trị. TS. Hoàng Văn Khải, Trưởng khoa Triết học, Học viện Chính trị khu vực IV, cho rằng chất lượng cán bộ còn nằm ở khả năng chuyển hóa tri thức lý luận thành năng lực lãnh đạo, quản lý và tổ chức thực hiện nhiệm vụ; vì vậy, kết hợp lý luận với thực tiễn địa phương phải trở thành nguyên tắc xuyên suốt trong đào tạo, bồi dưỡng.
Ông Dương Quốc Hoàng cũng nhấn mạnh phải giữ khung chung về nền tảng lý luận, quan điểm của Đảng, đạo đức công vụ và trách nhiệm chính trị. Phần cần đổi mạnh hơn là cách đưa những nội dung ấy vào công việc thực tế. Khoảng cách cần thu hẹp nằm ở chỗ lý luận đi được bao xa vào một quyết định, một hồ sơ và cách cán bộ xử lý công việc ở cơ sở.
Hồ sơ thật phải vào lớp học
Ở Trường Chính trị Phạm Hùng, một tình huống được đưa vào lớp là tranh chấp ranh đất giữa hai hộ dân ở khu vực giáp ranh hai xã cũ nay đã hợp nhất. Hồ sơ địa chính có sai lệch về số thửa và diện tích do được đo đạc ở hai thời điểm khác nhau; người dân muốn giải quyết ngay, trong khi công chức địa chính mới nhận nhiệm vụ chưa nắm hết lịch sử thửa đất.
Học viên không chỉ được yêu cầu nêu quy định. Họ phải xác định thẩm quyền của UBND xã, trình tự hòa giải, cách lập biên bản và cách giải thích để người dân hiểu, tránh đẩy vụ việc thành khiếu nại vượt cấp.
Một tình huống như vậy buộc người học phải nối nhiều thứ với nhau: Căn cứ pháp lý, dữ liệu chưa hoàn toàn thống nhất, thẩm quyền, trình tự xử lý và cách làm việc với người dân. Không có một đáp án chỉ cần học thuộc.
Không chỉ đưa các vụ việc thực tế vào lớp học, Trường Chính trị Thànhphố Cần Thơ còn đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng tăng sự tham gia của học viên.
TS. Huỳnh Thanh Hiếu, Phó Hiệu trưởng nhà trường cho biết, trường đang thực hiện nghiêm túc hướng dẫn của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, trong đó chú trọng đưa từ 50% nội dung thực tiễn trở lên vào giờ giảng và áp dụng mô hình “Giảng viên - Học viên đồng kiến tạo tri thức, giá trị mới”.
Thay vì chỉ nghe giảng, học viên được chia nhóm thảo luận những tình huống phát sinh tại cơ sở, khai thác thông tin bằng công cụ trí tuệ nhân tạo (AI), tra cứu văn bản pháp luật. Đáng chú ý, học viên còn được phân công đóng vai cán bộ lãnh đạo, quản lý để đề xuất phương án giải quyết các vấn đề thực tế ở địa phương.
Cách tổ chức này tạo điều kiện để học viên vận dụng kiến thức lý luận, quy định pháp luật và kinh nghiệm thực tiễn vào việc phân tích, giải quyết những tình huống mà cán bộ cấp xã có thể gặp trong quá trình thực thi công vụ.
Thực tiễn đào tạo ở Cà Mau cũng đang dịch chuyển theo hướng này. TS. Phạm Thanh Tâm, Phó Hiệu trưởng Trường Chính trị tỉnh Cà Mau, cho biết chương trình bồi dưỡng đã tập trung vào các kỹ năng như quản lý nhà nước, cải cách hành chính, chuyển đổi số, xử lý tình huống, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, quản lý đất đai; đồng thời cập nhật khai thác dữ liệu dùng chung, ứng dụng AI, an toàn thông tin và các quy trình nghiệp vụ mới.
Từ Đồng Tháp, TS. Nguyễn Phước Dũng, Tỉnh ủy viên, Hiệu trưởng Trường Chính trị tỉnh Đồng Tháp và TS. Bùi Văn De, Trưởng phòng Quản lý đào tạo và nghiên cứu khoa học của trường, đề xuất xây dựng bộ học liệu tình huống từ chính những vướng mắc đã xảy ra ở địa phương. Cách tiếp cận này biến kinh nghiệm giải quyết một vụ việc thành học liệu để những cán bộ khác có thể phân tích, tranh luận và thử phương án xử lý trước khi gặp tình huống tương tự.
Nếu được thiết kế lại một khóa bồi dưỡng 5 ngày, ông Dương Quốc Hoàng đề xuất giảm những phần trình bày lại khái niệm, lịch sử vấn đề hoặc đọc lại văn bản mà học viên có thể tự nghiên cứu. Thời gian đó dành hai ngày thực hành trên hồ sơ và phần mềm thật; một ngày cho tình huống tiếp dân, hòa giải và xử lý thông tin sai lệch; thời lượng còn lại cho phối hợp liên ngành, đối thoại với chuyên gia sở, ngành và sản phẩm cuối khóa của học viên.
Điều ông Hoàng đặc biệt lưu ý là phần lý luận chính trị không bị cắt, mà được tích hợp vào chính những tình huống để người học thấy rõ quan điểm, định hướng được vận dụng vào công việc hằng ngày như thế nào.

Giảng viên - học viên Trường Chính trị tỉnh Cà Mau thảo luận các kỹ năng quản lý nhà nước, cải cách hành chính, chuyển đổi số, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại tố cáo ở cơ sở
Khung bồi dưỡng chung nhưng kỹ năng cần 'may đo'
Đưa việc thật vào lớp mới giải quyết một phần bài toán. Phần còn lại là phải xác định ai cần học gì.
Ông Dương Quốc Hoàng gọi đó là “may đo” phần kỹ năng. Theo ông, khung chung về lý luận chính trị, quan điểm của Đảng, đạo đức công vụ và trách nhiệm chính trị phải được giữ thống nhất, nhưng phần kỹ năng cần bám vị trí việc làm và đặc thù địa bàn.
Công chức địa chính, xây dựng không thể có nhu cầu giống cán bộ làm văn hóa - xã hội hay tư pháp - hộ tịch. Địa bàn ven biển cũng khác phường đô thị; nơi đông đồng bào Khmer lại đặt ra yêu cầu về chính sách dân tộc, tôn giáo và giao tiếp liên văn hóa.
“Phải giữ khung chung nhưng bắt buộc ‘may đo’ phần kỹ năng”, ông Hoàng nói. Với 124 xã, phường của Vĩnh Long mới trải trên những không gian kinh tế, văn hóa và sinh thái khác nhau, ông cho rằng một giáo án giống nhau cho tất cả các địa bàn không còn phù hợp.
Cách tiếp cận từ khảo sát thực tiễn một số xã như An Ninh, Thuận Hòa và phường Long Mỹ ở thành phố Cần Thơ của ThS. Vũ Thị Bích, Học viện Chính trị khu vực IV cũng đề xuất việc bồi dưỡng phải bắt đầu từ khoảng trống năng lực của từng địa phương, từng nhóm chức danh và vị trí việc làm: Lĩnh vực nào phát sinh nhiều hồ sơ, quy trình nào còn lúng túng, phần mềm nào chưa thành thạo, địa bàn nào có đặc thù về dân tộc, tôn giáo, nông nghiệp hay đô thị hóa.
Theo bà, chương trình bồi dưỡng cần được thiết kế riêng cho cán bộ cấp xã, xuất phát từ chính những việc mà cán bộ phải làm hằng ngày, tập trung vào các nhóm năng lực cốt lõi như: Nắm chắc chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của cấp xã trong mô hình mới, hiểu rõ quan hệ phối hợp giữa cấp xã với các cơ quan chuyên môn của thành phố; xử lý công việc chuyển tiếp sau sắp xếp; quản lý hồ sơ, tài sản, tài chính, nhân sự; tổ chức tiếp nhận, giải quyết và trả kết quả thủ tục hành chính...
Từ đó, bài toán thiết kế một khóa học có thể quy về ba câu hỏi rất cụ thể: Người học đang làm việc gì, địa bàn họ có đặc điểm gì và phần năng lực nào đang thiếu.
Nếu không trả lời được ba câu hỏi ấy, chương trình có thể đúng về nội dung chung nhưng chưa chắc đã bù đúng khoảng trống mà cán bộ cần để làm việc.
Thay đổi ở cơ sở = kết quả khóa học
Đổi nội dung và phương pháp mới chỉ là một nửa câu chuyện. Nửa còn lại là phải biết người cán bộ sau khi học có làm việc tốt hơn hay không.
Ông Dương Quốc Hoàng cho rằng hiệu quả một khóa bồi dưỡng không nên chỉ dừng ở điểm số hay phiếu phản hồi cuối khóa. Có thể sử dụng chính dữ liệu đang có tại địa phương như tỷ lệ hồ sơ trễ hạn, hồ sơ phải bổ sung, hồ sơ trực tuyến, đơn thư phát sinh hay tỉ lệ hòa giải thành, rồi so sánh trong khoảng ba đến sáu tháng trước và sau khóa học; kèm theo đó là nhận xét của cấp ủy, chính quyền nơi học viên công tác.
Ông cũng đề xuất thay một phần bài kiểm tra lý thuyết bằng sản phẩm đầu ra: Mỗi học viên xây dựng phương án xử lý một công việc đang vướng tại chính xã mình. Khi đó, bài làm không chỉ dùng để cho điểm; nếu phương án tốt, nó có thể trở thành một phần công việc thực tế sau khóa học.
Tại Đồng Tháp, TS. Nguyễn Phước Dũng và TS. Bùi Văn De đặt vấn đề phải hình thành vòng khép kín “đào tạo - đánh giá - điều chỉnh”. Hiệu quả bồi dưỡng cần được theo dõi bằng các chỉ số đầu ra và những chuyển biến cụ thể ở cơ sở; kết quả ấy lại trở thành căn cứ điều chỉnh nội dung đào tạo tiếp theo.
TS. Lê Quốc Khởi, Phó Hiệu trưởng Trường Chính trị tỉnh Cà Mau, cũng chỉ ra cơ chế đánh giá đầu ra là một khâu cần tiếp tục đổi mới, theo hướng chú ý hơn đến năng lực thực tế và sản phẩm công tác của học viên sau đào tạo.
Như vậy, lớp học không nên kết thúc ở ngày trao chứng chỉ công nhận. Nếu kết quả công việc sau khóa học quay trở lại thành dữ liệu cho nhà trường và cơ quan sử dụng cán bộ, đào tạo mới hình thành được một vòng phản hồi: Cơ sở đang vướng gì → đào tạo bù phần đó → trở về áp dụng → đo kết quả → tiếp tục điều chỉnh.
Qua loạt bài này, câu chuyện cán bộ cấp xã ở ĐBSCL đi từ một thay đổi của bộ máy đến bài toán về con người. Đầu mối được tinh gọn nhưng phần việc, thẩm quyền và trách nhiệm ở cấp xã tăng lên; công việc mới đòi hỏi cán bộ không chỉ “đủ chuẩn” mà phải giải quyết được những vấn đề cụ thể; còn hệ thống đào tạo cũng phải theo kịp sự thay đổi ấy.
Đổi mới đào tạo, bồi dưỡng không phải để cán bộ học ít lý luận hơn, mà để lý luận đi sâu hơn vào thực tiễn. Hồ sơ thật, tình huống thật và đặc thù từng địa bàn cần đưa vào lớp học; kết quả công việc sau khóa học phải quay trở lại làm dữ liệu cho lần đào tạo tiếp theo. Thước đo cuối cùng không phải cán bộ đã qua bao nhiêu lớp, mà là sau những lớp học ấy, việc của dân được giải quyết tốt hơn ra sao.