Sign In

Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh

11:22 12/10/2013

Chọn cỡ chữ A a    



dai_tuong_vo_nguyen_giap_11.jpg

Đại tướng Võ Nguyên Giáp, (bí danh Dương Hoài Nam, tên thường gọi là anh Văn), sinh ngày 25 tháng 8 năm 1911, trong một gia đình nhà Nho ở làng An Xá, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, một vùng quê giàu truyền thống yêu nước và cách mạng.

Năm 1925, sau khi học hết chương trình lớp 3 bậc Sơ học (Elementary) Trường Tiểu học Đồng Hới, Quảng Bình, Võ Nguyên Giáp thi đỗ vào Trường Quốc học Huế. Năm 1927, đang học năm thứ 2 (chương trình Tiểu học) của Trường Quốc học, Võ Nguyên Giáp bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng. Cùng các đồng chí Nguyễn Chí Diểu, Phan Bôi, Nguyễn Khoa Văn (Hải Triều) tổ chức cuộc bãi khóa của học sinh, đòi nhà cầm quyền Pháp phải trả tự do cho nhà yêu nước Phan Bội Châu; phản đối hành động độc tài của viên giám thị người Pháp và nội dung giáo dục “nhồi sọ” của nhà trường thực dân. Bị đuổi học, trở về quê một thời gian ngắn, Võ Nguyên Giáp được đồng chí Nguyễn Chí Diểu - một thành viên của tổ chức Tân Việt Cách mạng Đảng, (sau đổi thành Đông Dương Cộng sản Liên đoàn, một trong 3 tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam), tìm đến móc nối liên lạc. Đồng chí Nguyễn Chí Diểu đưa cho Võ Nguyên Giáp đọc những ấn phẩm cách mạng của Liên đoàn các dân tộc bị áp bức trên thế giới tài liệu bí mật của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, trong đó có một số bài phát biểu của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tại các lớp bồi dưỡng cán bộ ở Quảng Châu (Trung Quốc).

Mặc dầu đã được nghe nói về lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, nhưng lần đầu tiên được trực tiếp đọc các tài liệu do Người soạn thảo, Võ Nguyên Giáp rất khâm phục và tâm đắc với những tư tưởng cách mạng mới mẻ. Chính sự khâm phục và tin tưởng vào lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, là tác nhân quan trọng, thổi bùng lên tinh thần và nhiệt huyết yêu nước trong con người Võ Nguyên Giáp. Từ giác ngộ cách mạng, Võ Nguyên Giáp đã xây dựng ý chí và quyết tâm đi theo con đường cách mạng vô sản mà Nguyễn Ái Quốc đã chỉ dẫn, nguyện cống hiến trọn đời vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân.

Được đồng chí Nguyễn Chí Diểu giới thiệu, Võ Nguyên Giáp được kết nạp vào tổ chức Tân Việt Cách mạng Đảng, chính thức bước vào con đường hoạt động cách mạng. Mùa hè năm 1928, trở lại Huế, Võ Nguyên Giáp được bố trí làm việc tại nhà xuất bản Quan hải tùng thư, (một cơ sở của Tổng bộ Tân Việt) và tham gia viết bài cho tờ báo Tiếng dân của nhà yêu nước Huỳnh Thúc Kháng.

Vừa làm việc, vừa học tập, thời gian này Võ Nguyên Giáp có điều kiện tiếp xúc, nghiên cứu những quan điểm mới từ các học thuyết kinh tế, xã hội, dân tộc, cách mạng. Đặc biệt là được nghiên cứu nhiều tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc như cuốn: Bản án chế độ thực dân Pháp và những bài viết của Người đăng trên báo Người cùng khổ (Le Paria) từ Pháp gửi về. Tư tưởng cách mạng của Nguyễn Ái Quốc về con đường cách mạng giải phóng dân tộc, thể hiện qua các tác phẩm, bài viết đã làm cho Võ Nguyên Giáp từ chỗ bị cuốn hút, đến chỗ hoàn toàn bị thuyết phục và kính trọng. Dù chưa một lần gặp gỡ lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, nhưng Võ Nguyên Giáp cảm thấy có sự gần gũi, thống nhất cao về quan điểm và ý chí cách mạng, sự hòa hợp, tương đồng về tư tưởng cứu nước, cứu dân.

Tháng 10 năm 1930, phong trào cách mạng Xô Viết Nghệ Tĩnh bùng nổ và bị chính quyền thực dân đàn áp đẫm máu. Hàng ngàn cán bộ, đảng viên và những người yêu nước bị bắt bớ, tù đày. Võ Nguyên Giáp cùng với nhiều cán bộ cách mạng của tỉnh uỷ Thừa Thiên - Huế và Xứ ủy Trung kỳ bị mật thám bắt, đưa về giam tại nhà lao Thừa Phủ.

Nhờ sự can thiệp của Hội Cứu tế Đỏ của Pháp, đến cuối năm 1931, Võ Nguyên Giáp được trả tự do, nhưng kèm theo một lệnh cấm không cho cư trú ở Huế của viên Công sứ Pháp. Vì không bắt được liên lạc với tổ chức, lại không được phép ở lại Huế, Võ Nguyên Giáp trở ra Hà Nội, xin vào học tại trường trung học Anbe Xarô (Albert Sarraut). Sau khi tốt nghiệp, Võ Nguyên Giáp tiếp tục theo học chương trình Cử nhân Luật, tốt nghiệp và được nhận bằng Cử nhân Luật (Licence en Droit), năm 1937.

Thời gian này, Cao trào đấu tranh Dân chủ lan rộng trên cả nước. Hoà mình vào phong trào cách mạng, Võ Nguyên Giáp tham gia đấu tranh trên mặt trận báo chí, trở thành một trong những người lãnh đạo Nhóm Le Travail (Lao động) và Nhóm Tin tức. Thực chất đây là tổ chức của Đảng trên mặt trận công khai, gồm có: Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Thế Rục, Nguyễn Văn Tiến, Trịnh Văn Phú, Vũ Đình Huỳnh, Đặng Thai Mai, Trần Đình Long, Trần Huy Liệu...vv. Sau đó, tờ báo được bổ sung nhiều cán bộ có trình độ lý luận cao vào Ban biên tập như: Đặng Xuân Khu, Khuất Duy Tiến, Tống Phúc Chiểu, Đặng Châu Tuệ, Hạ Bá Cang...làm cho báo Le Travail có đường lối chính trị cộng sản rõ rệt. Báo chẳng những được nâng cao về chất lượng, nội dung mà hình thức cũng rất phong phú, sức chiến đấu sắc bén, mạnh mẽ, làm cho tờ báo có ảnh hưởng sâu rộng, được quần chúng lao động, tiểu thương và các tầng lớp xã hội khác tiếp nhận hoan nghênh. Báo Le Travail trở thành diễn đàn rộng rãi của nhân dân tố cáo bọn thống trị, bênh vực quyền lợi của quần chúng, cổ động cho các chủ trương của Đảng. Tờ "Le Travail " không chỉ phát hành trong nước, mà qua các cơ sở bí mật của Đảng trong các thủy thủ tàu viễn dương, báo được gửi tới Đảng Cộng sản Pháp và một số trí thức tiến bộ ở nước Pháp.

Cùng với cỏc đồng chí như Đặng Xuân Khu, Đặng Thai Mai, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp lập ra tờ báo mới Notre Voix (Tiếng nói của chúng ta) xuất bản bằng tiếng Pháp, đăng tải nhiều bài có nội dung chính trị tỏ rõ khuynh hướng cộng sản, phổ biến rộng rãi quan điểm chủ trương của Đảng ta. Tờ Notre Voix không chỉ phát hành trong nước mà còn được đưa nước ngoài. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc khi đó đang ở Quế Lâm (Trung Quốc), cũng thường xuyên đọc và viết bài cho tờ Notre Voix. Trong Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản (cuối tháng 7 năm 1939), Người đã viết về tờ Notre Voix: “Cương lĩnh của Notre Voix, cũng là cương lĩnh chung của các tờ báo cộng sản ở Đông Dương”[1]. Với bút danh P.C.Line, Nguyễn Ái Quốc  đã gửi 9 bài viết về địa chỉ công khai của tòa sọan ở Hà Nội, các bài viết này đã được các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Đặng Xuân Khu trực tiếp nhận và cho đăng tải toàn bộ trên các số báo của Notre Voix[2]. Trong suốt những năm từ 1936 đến 1939, Võ Nguyên Giáp tham gia hoạt động rất tích cực trong phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương, là sáng lập viên của Mặt trận và được bầu làm Chủ tịch Ủy ban Báo chí Bắc Kỳ trong phong trào Đông Dương đại hội.

Bước sang đầu năm 1939, chủ nghĩa phát xít lên nắm quyền, không khí chiến tranh bao trùm khắp châu Á và châu Âu. Ở Việt Nam, chính quyền phản động ra lệnh đóng cửa các tờ báo, bắt bớ cán bộ, trở mặt đàn áp phong trào dân chủ. Theo chủ trương chỉ đạo của Đảng, các cơ sở cách mạng rút vào hoạt động bí mật, Võ Nguyên Giáp trở thành giáo viên dạy môn Lịch sử tại Trường tư thục Thăng Long. Tuy nhiên, vì mật thám Pháp biết rất rõ về Võ Nguyên Giáp, chúng cho người theo dõi thường xuyên, chỉ chờ có lệnh là bắt giam. Trước tình hình đó, đồng chí Hoàng Văn Thụ - Bí thư Xứ uỷ Bắc Kỳ chỉ đạo, bố trí liên lạc đưa Võ Nguyên Giáp (bí danh là Dương Hoài Nam) và Phạm Văn Đồng (bí danh Lâm Bá Kiệt) sang Côn Minh (Trung Quốc) gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. 

Đầu tháng 5 năm 1940, theo sự bố trí của đồng chí Bùi Đức Minh, đồng chí Võ Nguyên Giáp cùng đồng chí Phạm Văn Đồng bí mật lên Lào Cai, qua Hà Khẩu rồi vượt biên sang Trung Quốc gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh [3].

Lần đầu tiên được gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, nhưng Võ Nguyên Giáp cảm thấy như gặp người quen đã lâu ngày. Sau khi hỏi han sức khoẻ, tình hình đi đường, Người chăm chú lắng nghe các đồng chí báo cáo về tình hình cách mạng trong nước, về chủ trương, đường lối của Đảng được xây dựng tại Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (11-1939). Kể từ đây, mọi hoạt động cách mạng của Võ Nguyên Giáp gắn liền với sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh.

Chỉ sau một thời gian ngắn, Hồ Chí Minh nhận thấy Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng là những cán bộ có năng lực, có triển vọng phát triển, nên Người đã liên hệ với Đảng Cộng sản Trung Quốc và cử 2 người đi học quân sự tại căn cứ địa Diên An. Nhưng đang trên đường tới Diên An, các đồng chí Võ Nguyên Giáp và Phạm Văn Đồng, Cao Hồng Lĩnh nhận được thư hỏa tốc của lãnh tụ Hồ Chí Minh gọi quay lại Liễu Châu, vì theo nhận định của Người, tình hình thế giới có nhiều thay đổi lớn. Ở châu Âu, phát xít Đức đã xâm chiếm Pháp. Hồ Chí Minh nhận định tình hình Đông Dương sẽ chuyển biến nhanh, cần chuẩn bị gấp rút trở về nước đón thời cơ.

Ngày 28 tháng 1 năm 1941 đúng dịp tết Nguyên đán Tân Tỵ, đoàn cán bộ gồm các đồng chí Lê Quảng Ba, Đặng Văn Cáp... do Hồ Chí Minh dẫn đầu trở về Pác Bó, Cao Bằng trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Các đồng chí Vỗ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng được phân công ở lại Liễu Châu tiếp tục hoạt động trong tổ chức Việt Nam dân tộc Giải phóng Đồng minh Hội, (gọi tắt là Hội giải phóng) một thời gian nữa mới về nước, tham dự Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (5-1941). Sau Hội nghị Trung ương 8, theo sự phân công trực tiếp của lãnh tụ Hồ Chí Minh, đồng chí Võ Nguyên Giáp tham gia xây dựng cơ sở cách mạng, mở lớp huấn luyện quân sự cho Việt MinhCao Bằng, tiếp tục mở rộng phát triển cơ sở về phía Nam và phía Tây (Bắc Cạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang).

Nhận định thời cơ khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân đang đến gần, tháng 12-1944, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã ra Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và giao cho đồng chí Võ Nguyên Giáp phụ trách, thực hiện. Bản chỉ thị của Người nhấn mạnh: “Tên Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền…”, đồng thời: “Nó là khởi điểm của Giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc khắp đất nước Việt Nam chúng ta”[4].

Sau một thời gian chuẩn bị, ngày 22 tháng 12 năm 1944, dưới sự chỉ huy của đồng chí Võ Nguyên Giáp, đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập tại chiến khu Trần Hưng Đạo gồm 34 chiến sĩ, đây là tổ chức tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ngày 25 tháng 12 năm 1944, dưới sự chỉ huy trực tiếp của đồng chí Võ Nguyên Giáp, đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân đã lập chiến công đầu tiên, tập kích diệt gọn hai đồn Phai Khắt và Nà Ngần, mở đầu cho truyền thống quyết chiến quyết thắng của quân đội ta.

Với tài năng và nhiệt huyết cách mạng, ngày 14 tháng 8 năm 1945, đồng chí Võ Nguyên Giáp được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, sau đó được chỉ định làm Ủy viên Thường vụ Trung ương; Ủy viên Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc, trực tiếp chỉ huy lực lượng vũ trang khởi nghĩa, giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám 1945. Sau Cách mạng Tháng Tám, đồng chí Võ Nguyên Giáp được cử làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Thứ trưởng Bộ Quốc phòng trong Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; Tổng chỉ huy Quân đội quốc giaDân quân tự vệ.

Khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, đồng chí Võ Nguyên Giáp được Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh phân công phụ trách quân sự. Mặc dầu không được đào tạo tại bất kỳ trường quân sự nào, không trải qua các cấp bậc quân hàm trong quân đội, nhưng với tài năng và trí tuệ của mình, đồng chí Võ Nguyên Giáp được Chủ tich Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 110/SL, ngày 20 tháng năm 1948, phong quân hàm Đại tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam, khi đó đồng chí mới 37 tuổi. Sau này, trả lời phóng viên nước ngoài về tiêu chí phong tướng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "Đánh thắng đại tá phong đại tá, đánh thắng thiếu tướng phong thiếu tướng, thắng trung tướng phong trung tướng, thắng đại tướng phong Đại tướng". Tháng 8 năm 1948, đồng chí Võ Nguyên Giáp được cử làm Ủy viên Hội đồng Quốc phòng Tối cao của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Tiếp thu nghệ thuật quân sự, truyền thống đánh giặc, giữ nước của cha ông và tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nghiên cứu, chỉ huy các lực lượng vũ trang, quân đội ta vận dụng phương pháp đánh du kích. Đồng thời, chú trọng phát huy tinh hoa quân sự thế giới, lý luận quân sự Mác - Lênin để phát triển hình thái chiến tranh nhân dân, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chế mạnh, lấy thô sơ thắng hiện đại. Dưới sự chỉ huy của Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, quân đội ta đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Trong 9 năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã có những sáng kiến quan trọng để phát huy sức mạnh quân sự Việt Nam, mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, trước khi Đại tướng Võ Nguyên Giáp lên đường ra trận, Chủ tịch Hồ Chí Minh hỏi: "Chú đi xa như vậy chỉ đạo chiến trường có gì trở ngại?". Đại tướng trả lời: "Thưa Bác! Chỉ trở ngại là ở xa, khi có vấn đề quan trọng khó xin ý kiến của Bác và Bộ Chính trị". Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Tướng quân tại ngoại, trao cho chú toàn quyền quyết định rồi báo cáo sau". Khi chia tay, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị: "Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng, chắc thắng mới đánh. Không chắc thắng không đánh".

Theo tư tưởng chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, với phương châm: “Đánh chắc, tiến chắc”, Đại tướng Tổng Tư lệnh đã chỉ huy bộ đội ta đánh bại đội quân viễn chinh nhà nghề Liên hiệp Pháp được trang bị vũ khí hiện đại, được sự viện trợ đắc lực của quân đội Hoa Kỳ. Chiến thắng này đã đặt dấu chấm hết cho quyền lực của người Pháp tại Đông Dương, và đã đưa Đại tướng Võ Nguyên Giáp đi vào lịch sử thế giới, đi vào lịch sử Việt Nam như là một thiên tài quân sự, một anh hùng dân tộc. Đối với các nước thuộc địa, tên tuổi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp được tôn vinh quý mến, là những tấm gương tiêu biểu của phong trào giải phóng dân tộc, những người đi tiên phong trong phong trào đấu tranh lật đổ chế độ thực dân xây dựng nền độc lập dân tộc của mỗi quốc gia.

Từ năm 1954 đến năm 1976, trong suốt những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước gay go, ác liệt, Đại tướng Võ Nguyên Giáp liên tục được cử giữ cương vị Ủy viên Bộ Chính trị - Bí thư Quân ủy Trung ương, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh, với tinh thần: “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”; với tư tưởng: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”; “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”, quân đội ta dưới sự chỉ huy của Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, đã lập lên những chiến công oanh liệt, viết lên bản anh hùng ca chói lọi nhất trong lịch sử dân tộc ta ở thế kỷ XX. Đặc biệt, nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh và trí tuệ Việt Nam của Đại tướng được thể hiện trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Khẳng định thiên tài quân sự của Đại tướng Võ Nguyên Giáp bằng mệnh lệnh nổi tiếng: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng phút, từng giờ, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam, quyết chiến và toàn thắng”. Như hồi kèn xung trận, mệnh lệnh của Đại tướng đã tăng thêm sức mạnh thôi thúc các quân đoàn chủ lực của bộ đội ta dũng mãnh xông lên, thực hiện trọn vẹn tâm nguyện của Bác Hồ: Giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Với 103 tuổi đời, 80 năm hoạt động cách mạng sôi nổi, liên tục, những cống hiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho Đảng và cách mạng Việt Nam thật vĩ đại. Đại tướng là một trong những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tưởng nhớ Đại tướng Võ Nguyên Giáp, chúng ta tự hào về một người cộng sản chân chính, nhà quân sự thiên tài của quân đội ta và là một huyền thoại trong hàng danh nhân quân sự của thế giới hiện đại. Chúng ta bày tỏ lòng biết ơn về những cống hiến to lớn của Đại tướng đối với đất nước, quê hương. Tưởng nhớ đến Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nhà lãnh đạo tài năng của Đảng và cách mạng Việt Nam, chúng ta nguyện học tập ý chí kiên cường, sáng tạo, tinh thần làm việc tận tụy, hy sinh phấn đấu trọn đời vì lý tưởng của Đảng và hạnh phúc của nhân dân; học tập nhân cách đạo đức sáng ngời cña mét người cộng sản mẫu mực, quyết tâm phấn đấu xây dựng đất nước ta ngày càng giàu, đẹp. Tấm gương sáng ngời của Đại tướng Võ Nguyên Giáp còn sống mãi trong trái tim cán bộ, đảng viên và các thế hệ người Việt Nam chúng ta !

[1]Báo:Notre Voix, số 2, ngày 8-1-1939. 

[2]Xem: Hồ Chí Minh: Biên niên-Tiểu sử, tập 3, NXB.CTQG.H.1995

[3] Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử. NXB.Văn học. H. 1977. tr. 21-22.

[4]Dương Trung Quốc (chủ biên): Việt Nam những sự kiện lịch sử (1919-1945), NXB.Giáo Dục, Hà Nội, 2000. Tr. 382.


PGS. TS Trần Minh Trưởng - Viện trưởng Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng



Alternate Text

Bình luận

Danh sách bình luận

Số lượng ý kiến bài viết: 0

Hội nghị kiểm tra tiến độ thực hiện nhiệm vụ khoa học “Nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của giảng viên trường chính trị đáp ứng yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng hiện nay”

17:48 03/04/2026

Sáng ngày 01/4/2026 tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hội nghị kiểm tra tiến độ thực hiện nhiệm vụ khoa học “Nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của giảng viên trường chính trị đáp ứng yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng hiện nay” được tổ chức trong không khí nghiêm túc, trách nhiệm và mang đậm tinh thần khoa học, đổi mới. Hội nghị do PGS,TS Hoàng Phúc Lâm - Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ nhiệm Đề án 587 chủ trì, với hình thức kết hợp trực tiếp và trực tuyến đến Trường Chính trị tỉnh Đồng Nai, Trường Chính trị Hoàng Văn Thụ tỉnh Lạng Sơn, Trường Chính trị tỉnh Gia Lai, Trường Chính trị tỉnh Lào Cai đã góp phần mở rộng không gian trao đổi học thuật, bảo đảm sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của các đơn vị liên quan.

Thông báo tổ chức bảo vệ luận án tiến sĩ cho Nghiên cứu sinh Ngô Thị Nhung

17:13 03/04/2026

Thông báo

Thông báo tổ chức bảo vệ luận án tiến sĩ cho Nghiên cứu sinh Trình Quốc Hưng

17:12 03/04/2026

Thông báo

Thông báo tổ chức bảo vệ luận án tiến sĩ cho Nghiên cứu sinh Trương Thị Thanh Thùy

17:11 03/04/2026

Thông báo

Nghiên cứu sinh Nguyễn Thu Hiền tóm tắt những kết luận mới của luận án

17:08 03/04/2026

Nội dung đính kèm

Thống kê lượt truy cập

Lượt truy cập:

Khách online: